|
|
Tất cả các diễn đàn
|
Thông tin thể thao |
|
Yoga - Khí công - Nhân điện, Diễn đàn thể thao, Bóng rổ, Các cup bóng đá Âu châu, Võ thuật, Cờ, Bóng bàn, Cầu lông, Billiard-Snooker, Tennis,
|
|
|
Chủ
đề mới Trưng
cầu mới
Trả
lời
Gửi
cho bạn của bạn
In
ấn
|
|
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
Than phiền
Xin mạo muội post một tài liệu về một chủ đề hầu như chưa thấy ai nói tới trong BOX nhà mình - Triết lý về Yoga - Do cuốn sách này được viết theo góc nhìn của những nhà duy tâm nên ngoài các khía cạnh về bảo vệ sức khoẻ thể chất và tinh thần còn có nhiều khía cạnh tôn giáo, triết học và tâm linh. Tuy vậy vì nó tiếp cận môn Yoga theo cách tổng thể nhất nên tui nghĩ là không nên cắt bỏ những phần này. Tui chắc chắn là nhiều người đọc cuốn này sẽ có cảm giác như bị truyền đạo. Nhưng rất mong bà con đọc với tinh thần của một nhà khoa học mong muốn khám phá tìm hiểu một môn khoa học về sức khoẻ tuy còn mới với chúng ta, nhưng đã tồn tại từ 7.000 năm nay, xin đừng vội phê phán chỉ trích đúng sai khi có những bất đồng về tư tưởng. Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý) Gửi lúc 13:53, 02/04/04
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
Yoga – con đường của tantra (Yoga – the way of tantra)Mục lục - Chương1: Sự cần thiết của Thiền - Chương2: Tantra và Ananda Marga - Chương3: Cân bằng xã hội và hội nhập cá nhân - Chương4: Các tư thế Yoga – Asanas - Chương5: Chế độ ăn uống và sức khoẻ - Chương6: Thiền và Mantra - Chương7: Guru - Chương8: Các bài học về Thiền - Chương9: Kundalini, cac luân xa và tâm trí - Chương10: Hiện hữu và tiến hoá - Chương11: Đời sống, cái chết và sự giải thoát - Chương12: Yantra - Chương13: Cái tôi và xã hội Chương I: Sự cần thiết của thiền
Giảm đè nén và căng thẳng Thế giới ngày nay đầy những đè nén và căng thẳng về tâm trí. Con người luôn luôn tất bật mà cũng chẳng có đủ thời giờ để hoàn tất mọi việc mà họ đã hoạch định. Tốc độ và mức hoạt động cao của thế giới hiện đại đang làm tổn hại trí óc và hệ thần kinh nhạy cảm của chúng ta. Muốn chống trả hữu hiệu với sự đè nén và căng thẳng gây ra bởi cuộc sống trong môi trường ngày càng gay gắt này, con người cần phải đạt được sự hiểu biết sâu xa cũng như kiểm soát được trí óc của mình. Trí óc là trung khu của mọi suy nghĩ và cảm giác của chúng ta, và nó cũng là một bộ phận của con người bị tác động nhiều nhất bởi những điều kiện của môi trường sống. Muốn giảm thiểu nhưng tác dụng phụ có hại của môi trờng gây ra, chúng ta phải biết điều chỉnh cách thức chúng ta liên hệ với môi trường. Khát vọng cái vô hạn Tất cả các tôn giáo trên thế giới dường như tập trung vào ba điều: - Khám phá chân lý - Nhận thức được Đấng Tối Cao - Đạt đến cuộc sống vĩnh cửu hoặc cõi vĩnh phúc. Tất cả đều nói đến một hình thức hiện hữu cao hơn và họ đã gọi điều đó bằng hững cái tên khác nhau, chẳng hạn như thượng giới, thiên đường, cứu rỗi, cõi phúc, satori, niết bàn, giải thoát.v.v. Tôn giáo bắt nguồn từ khát vọng của con người là muốn vượt lên trên cuộc sống vật chất và tâm trí để bước vào thế giới mà chúng ta gọi là cõi tâm linh. Nỗi khát vọng tinh thần này dường như là một cá tính căn bản của con người. Như một nhà “duy linh” đã nói, “Con người luôn có một niềm khát vọng về cái vô hạn” Ngày nay, vấn đề về cõi tâm linh đã gây ra nhiều bối rối và thất vọng. Nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, đã mất lòng tin vào những truyền thống tôn giáo chính thống và đã không làm cho họ đạt được các mục tiêu. Nhiều vấn nạn đã được đưa ra, không biết các tôn giáo có biểu hiện được những gì mà các người đề xướng đã nêu ra hay không. Có điều gì bị bỏ quên hay không? có phải đức tin đã trở thành dị đoan hay không? Hoặc nhận thức đã troe thành giáo điều? Những làn sóng thức tỉnh mới về tôn giáo và tâm linh đã sống dậy từ những đổ nát của các tôn giáo lạc hậu, nhấn mạnh đến chính yếu tính của nhiệm vụ của họ: kinh nghiệm và nhận thức về Đấng Tối Cao. Trong số những phong trào tâm linh mới thức tỉnh này, khoa học cổ xưa của Yoga và Thiền, bắt nguồn từ phương Đông, ngày càng được phương Tây quan tâm. Một trong những lý do của tình hình này là phương pháp thực tiễn và khoa học của nó. Cùng với trào lưu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, giới trẻ ngày nay không sẵn sàng chấp nhận bất cứ lý thuyết hoặc giáo điều nào nếu nó không phù hợp với những khám phá khoa học và không dựa trên luận lý. Yoga nhấn mạnh khía cạnh thực tiễn của con đường tâm linh chúng ta. Nó không cần đến vẻ hào nhoáng bên ngoài, cũng không cần đến những bước lễ nghi hoặc chấp nhận kinh điển nào. Người ta có thể thuộc bất cứ đức tin nào (hoặc không có đức tin nào cả) mà vẫn tham gia vào Yoga và Thiền. Vì thế nên không có tranh chấp giữa Yoga và các tín điều tôn giáo. Thường xuyên luyện tập Thiền giúp cho con người được sáng suốt hơn trong tín điều của mình (hoặc không có tín điều nào) vì chân trời tâm trí dần dần mở rộng và con người sẽ dễ tiếp nhân trạng thái thăng hoa của nhận thức . Cuộc Cách mạng ý thức Trong trạng thái bình thường của ngu si khi sống trên bình diện thấp của cuộc đời, chúng ta tự đồng hoá với thân thể và những phần nông cạn của tâm trí chúng ta. Chúng ta cảm thấy mình khác biệt và tách rời thế giới và với cả những đồng bào của chúng ta. Chúng ta dựng lên những rào cản xã hội để phân ranh giới ý thức của chúng ta về sự tách rời tâm trí: những bức tường tín ngưỡng, giai cấp, giới tính, sắc tộc hoặc quốc tịch. Chúng ta vẽ lên những vòng tròn chật hẹp xung quanh chúng ta bằng những triết thuyết, tín điều và thành kiến gò bó phù hợp với tâm trí của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta nói với những người khác ”Cút đi! Mày không cùng giáo hội với tao”. ý niệm sai lầm về nhận diện bằng những thành kiến hẹp hòi của chúng ta dã tạo nên những cuộc tranh chấp triền miên trong lịch sử địa cầu. Trên bình diện ý thức, tâm trí chúng ta khác biệt và tách rời nhau, nhưng trên bình diện siêu thức, tâm trí và cái Ngã vô hạn, tất cả chỉ là một. Những người đã nâng cao tâm trí của mình vượt trên bình diện thấp kém của hiện hữu, vượt qua tất cả rào cản tâm linh và xã hội và đạt được cái nhìn quán thế. Nhận thức được tất cả tâm trí đều là những phần tử của “Tâm trí vũ trụ” và cũng là những làn sóng trong đại dương ý Thức Vô Hạn, những cao nhân này thấy được mỗi thực thể là một biểu hiện của Đấng Tối Cao. Họ cảm thấy một con suối yêu thương vô tận, dâng trào từ họ và chảy đến với mọi người, không phân biệt ai cả. Họ đã ôm lấy vũ trụ như của riêng họ. Ngày nay một xã hội loài người mới mẻ và lành mạnh phải được tạo dựng- không chỉ để đáp ứng các nhu cầu vật chất mà còn phải tán trợ các sự thăng hoa về tâm trí và tinh thần nữa. Xã hội này phải được dẫn dắt bởi những người có cái nhìn quán thế, luôn luôn nghĩ đến cái thiện cho loài người. Thế giới thật sự cần đến bàn tay vỗ về đầy yêu thương của họ. Vì vậy, một quá trình thực tiễn cần được đặt ra để chúng ta có thể nâng cao mình lên bình diện cao nhất của cuộc sống và nhận thức được tính đồng nhất của chúng ta. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể phá vỡ tất cả những rào cản đã biến chúng ta thành kẻ thù của nhau. Quá trình tâm trí tinh thần này sẽ là viên đá nền móng cho một xã hội đại đồng trong đó mọi người thực sự hài hoà với nhau. Chẳng có ích gì khi tìm cách sửa đổi tâm trí của mình. Điều kiện tiên quyết cho những thay đổi xã hội là phải liên tục nỗ lực nâng cao trí óc của chúng ta bằng con đường của Thiền . Vì thế cuộc Cách mạng đầu tiên phải là cuộc Cách mạng về ý thức. Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý) Gửi lúc 14:09, 02/04/04
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
Chương 2: Tantra và Yoga Ananda MargaĐể có thể hiểu biết đến nay Thiền đã được hình thành như thế nào, chúng ta cần xem qua lịch sử của nó. Thiền là một kỹ thuật đã tiến hoá từ nhiều ngàn năm qua, có nguồn gốc sâu xa được biết đến trong các bài luyện tập “Tantra”. Tantra được vị danh sư y Sadashiva du nhập lần đầu tiên vào ấn độ, cách đây khoảng 7.000 năm. Tantra được hình thành như một khoa học toàn diện về cuộc sống, bao gồm mọi khía cạnh của việc phát triển cá nhân và xã hội. Từ “Tantra” có nghĩa là “cái để giải thoát khỏi sự ngu dốt” và vì thế các bài tập của nó được đặt căn bản trên một phương pháp có hệ thống và khoa học để đưa con người ra khỏi tình trạng ngu dốt và đạt đến giác ngộ tinh thần. Các bài tập của nó không chỉ giới hạn trong Thiền và Yoga nhưng còn được mở rộng sang các lĩnh vực nghệ thuật, âm nhạc, văn chương, y học, khiêu vũ và ý thức về môi trường – Nói tóm lại, nó là một con đường thiêng liêng để tiếp cận cuộc sống.’ Nhiều năm trôi qua, nhiều môn phái và chi phái khác nhau của Tantra đã được hình thành. Một cách thức đơn giản để phác hoạ điều này được chỉ rõ trong biểu đồ. Dựa theo biểu đồ này, ta có thể thấy được Tantra đã trở nên đa dạng như thế nào và hầu như toàn thể các loại “Yoga” mà chúng ta có ngày nay đều bắt nguồn từ những lời dạy của Sadashiva. Tantra bị phân thành nhiều lĩnh vực khác biệt và chuyên hoá, đã dẫn đến tình trạng mất tính hữu hiệu và hài hoà của một triết thuyết hoàn hảo và toàn diện trong cuộc sống. Việc này giống như câu chuyện năm người mù sau khi sờ voi, được một vị vua ra lệnh tả lại con voi – người đầu tiên được sờ đuôi voi, nói rằng voi là một con vật dài, ốm và tròn. NGười thức hai, sờ tai voi, cho rằng voi là mộtcon vật lớn, cong và mèm nhão. Mỗi người lần lượt mô tả voi theo cách thức riêng biệt của mình. Mặc dù mỗi người đều đúng trong việc mô tả mỗi bộ phận mình biết, họ đã làm mất cái nhìn toàn bộ về con voi và do đó cả việc mô tả toàn diện. Đây cũng là trường hợp của Tantra. Các môn phái khác nhau có thể tập trung vào một lĩnh vực đặc biệt nào đóvà đánh mất cái nhìn toàn diện. Tantra là một khoa học vượt thời gian- mức độ liên quan của nó đối với thế giới ngày nay cũng không thua kém trong quá khứ. Trong lĩnh vực khoa học, y học và tâm lý họ, các khoa học ngay nay mới chỉ bắt đầu hiểu biết và xác nhận các lời dạy nêu ra trong Tantra – việc phân tích tâm trí con người của Tantra đã mở ra một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ cho khoa tâm lý học. Nhiều bác sĩ và cac chuyên viên y tế đã nhận thức rằng những bài tập sức khoẻ và các tư thế Yoga mô tả trong Tantra đã vượt quá phạm vi của y học “chính thống”. Tantra là câu trả lời khoa học cho các vấn đề đang làm điên đầu nhân loại trong thế giới đầy rối loạn và phức tạp hiện nay. Hơn nữa , Tantra dạy ta phải có một cái nhìn khách quan đối với mọi vật trong cuộc sống và phải sống tích cực- nghĩa là phải luôn luôn thực hiện những hành động giúp cho sự tiến hoá của chúng ta, cũng như việc tiến gần đến Đấng Tối Cao. Tantra cũng cung cấp cho ta những chỉ dẫn để phân biệt những gì đưa con người đến sự vĩ đại và những gì đưa con người đến sự hỗn loạn, tối tăm và ngu dốt. Tantra là một khoa học có thể áp dụng cho mọi lợi ích hàng ngày, cho mọi người trên khắp thế giới. Vào khoảng 100 năm trước Công Nguyên, Tantra được Patanjali chia ra làm 8 chi phái và được gọi là Astaunga Yoga. “Astaunga” có nghĩa là 8 nhánh và “Yoga” có nghĩa là kết hợp – kết hợp của bản ngã cá nhân, ý thức cá nhân với ý thức vũ trụ, hoặc Đại Ngã. Hệ thống Yoga này tượng trưng cho nền tảng của Yoga Ananda Marga. Tám khía cạnh đó được trình bày ngắn gọn dưới đây: Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý) Gửi lúc 14:30, 02/04/04
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
1& 2 – Các điều luật cho việc cân bằng xã hội và hội nhập cá nhân (Yama và Niyama) : Khi không có sự hướng dẫn cho các hành vi của con người, sự cân bằng bên trong và bên ngoài cần thiết để làm nền tảng cho những nỗ lực thật lf mơ hồ. Việc đề cao Yama-Niyama đã thâm nhập vào cách sống Yoga, vì nếu không có những nguyên tắc này, người khát vọng về tinh thần có thể gây nguy hại cho chính bản thân mình và cho cả người khác. 3 – Các tư thế hoà hợp và làm trong sạch cơ thể (Asana) – Sự phát triển tinh thần có thể là một biến đổi nội tâm, nhưng nó phải song song cùng với việc làm trong sạch và hoà hợp thân thể. Sức khoẻ tốt, sự cân bằng xúc cảm và sức mạnh tâm trí có được nhờ luyện tập các tư thế Yoga (Asana) là điều khồng thể thiếu được của việc Thiền. 4 – Kiểm soát dòng sinh lực (Pranayama) – Cuộc sống là một sinh lực (Prana) bên trong cơ thể, năng lực hay sức mạnh này duy trì các chức năng của cơ thể bằng cách rung động các tế bào, thần kinh và các bộ phận khác.v.v. Sự rung động này được hoàn thành nhờ những xung động liên tục của Prana (sinh lực). Khi tất cả tế bào bị rung động bởi luồng sinh lực, bao gồm cả những tế bào não bộ tinh tế nhất, nếu vị thầy Yoga muốn tập trung tâm trí củamình vào những vùng trực giác tinh tế nhất, ông ta phải mang lại sự bình yên tuyệt hảo cho cơ thể mình bằng cách đạt được sự chế ngự những xung động của dòng sinh lực. Khả năng tập trung tâm trí tuỳ thuộc vào khả năng giảm tốc độ của các xung động của dòng sinh lực. Chẳng hạn, khi chúng ta vận động mạnh, xung động của luồng sinh lực sẽ tăng tốc độ và nhịp thở trở nên nhanh hơn. Luồng sinh lực chuyển động tạo cho trí óc bị kích động tương tự, làm cho việc tập trung tâm trí cực kỳ khó khăn. Nếu bạn bắt một người vừa chạy qua một đoạn đường trả lời một câu hỏi phức tạp, anh ta sẽ nói: “Đợi một chút cho tôi thở cái đã” Hít thở được coi như bánh xe điều chỉnh tốc độ của bộ máy sinh lực – thở một hơi (nghĩa là thở chậm lại) có nghĩa là làm chậm lại tần số sinh lực và do đó là một khả năng tập trung tâm trí. Muốn nắm bắt được Đại Ngã vô hạn và vô hình, cần phải có một sự tập trung hoàn toàn và muốn đạt được điều này cần phải làm cho xung động của dòng sinh lực dừng lại. Vì thế các vị thầy Yoga sử dụng các phương pháp Pranayama (“Yama” có nghĩa là kiểm soát) để kiểm soát dòng sinh lực. Phương pháp này bao gồm một quá trình hít thở có hệ thống nên Pranayama đôi khi được giải thích là “kiểm soát hơi thở”. Thực ra chủ yếu là một quá trình nội tâm và hệ luận vật chất chỉ là thứ yếu, vì vậy từ ngữ “kiểm soát hơi thở” có thể gây hiểu lầm. Đùa giỡn với hơi thở để trở thàh bậc thượng thừa, hoặc luyện tập bất cứ phương pháp Pranayama nào mà không có chỉ dẫn tunh thần đúng đắn và thiếu sự chuẩn bị tâm trí đều rất nguy hiểm và liều lĩnh. Khi một người học đã được chuẩn bị đầy đủ, một vị thầy có khả năng sẽ chỉ dạy cho người học môn Pranayama. 5- Sự thu hút của trí (Pratyahara) – Khi đối phó với thế giới bên ngoài, con người trở nên bế tắc vì nhiều điều phân trí. Muốn trụ vào Đại Ngã, tâm trí phải trút bỏ các điều phân trí bằng quá trình học tập. Quá trình này gọi là Pratyahara, bao gồm sự thu hút khỏi sự phân trí về giác quan khởi thức của thân thể, và khỏi sự khuấy động của tư duy. Tâm trí sẽ di chuyển từ các điều phân trí trên để tập trung vào một điểm nội tâm. Một vị thầy (Acarya) sẽ đọc cho người bắt đầu tập thiền nhập môn (khai tâm) của phương pháp Pratyahara và trải qua nhiều giai đoạn liên tục, người học sẽ được dạy các phương pháp cao hơn. 6 – Tập trung trí óc vào nội tâm (Dharana) – Bổ túc cho việc trút bỏ các điều phân trí khỏi trí óc là làm đầy trí óc với các thu hút – thu hút về cái chân ngã bên trong. Muốn làm được điều này, việc tập trung nội tâm là cần thiết và được các vị thầy Yoga gọi là Dharana. Người tập thiền cố gắng chuyển trí óc vào một điểm nội tâm – duy trì một sự tập trung hướng vào nội tâm, loại trừ tất cả khuấy động hoặc phân trí. Khi bạn bắn mũi tên tâm trí của bạn với cây cung Thiền, bạn phải nhắm vào mục tiêu chân ngã bằng kỹ thuật Dharana. Thực thể vô hạn này nằm trong nhân của cuộc sống của bạn và cá nhân này tương ứng với một điểm đặc biệt nào đó trong hệ thống cơ thể – tâm trí của bạn. Nhưng điểm nhân này, trung tâm của Chân Ngã không phải đều giống nhau ở mọi người, trung tâm tâm trí đặc biệt này (luân xa) thích hợp với kỹ thuật Dharana, có thể khác biệt ở mỗi người. Cần phải có một vị thầy đã thành đạt bằng trực giác (Acarya) để chỉ dạy cho mỗi cá nhân. Vị thầy (Acarya) này có khả năng chỉ đạo bạn tập trung tâm trí vào đâu và bằng cách nào. Dharana được chỉ dạy bằng những bài học đặc biệt nâng cao (xem hướng dẫn về các kỹ thuật Thiền Ananda Marga). 7 – Dòng tâm trí: Thiền (Dhyana) - nói đúng hơn, Thiền xuất hiện khi người tập giữ tâm trí của mình liên tục tập trung vào cái Ngã Tối Cao ở nơi sâu thẳm nhất. Khi dòng tập trung không bị chút gì khuấy động. Hình thức Dhyana (Trầm tư hoặc Chân Thiền ) này là một thành đạt nội tâm sâu thẳm và là kết quả của những nỗ lực lớn lao về Thiền. Trong Dhyana, nỗ lực trở thành thư thái dễ dàng, tâm trí xuôi chảy một cách tự nhiên vào trong. Đây là bài học cuối cho người học tập tâm trí vì vượt qua nó là thành đạt tối cao (Samadhi) 8 – Duy trì tâm trí trong ý thức (Samadhi) - phần cuối của Astaugna Yoga thực ra không phải là bài tập mà là kết quả. Khi sự toàn hảo đã đạt được trong Dhyana, tâm trí cá nhân không còn duy trì được phần riêng tư của mình nữa, nhưng nó sẽ hoà nhập vào ý Thức Vũ Trụ. Mọi cảm nghĩ cá nhân sẽ bị tiêu tan trong sự xuất thần nhạp hoá của Yoga (hợp nhất). Một giọt nước nhỏ hoà nhập vào biển cả Ananda vĩnh trường – chân phúc thiêng liêng. Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý) Gửi lúc 14:39, 02/04/04
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
Chương 3: Cân bằng xã hội và hội nhập cá nhânNhững bài tập tinh thần (Sadhana) cần cho sự cân bằng tâm trí ngay từ lúc bắt đầu. Sự hài hoà tâm trí này cũng có thể gọi là đạo đức … Đạo đức không phải chỉ đem lại cho con người nguồn cảm hứng để tiến theo con đường Sadhana, mà còn đem lại cả khả năng tiến bộ nữa. Việc áp dụng đạo đức tuỳ thuộc vào nỗ lực duy trì sự cân bằng tâm trí đối với các thay đổi về thời gian, nơi chốn, và con người tham gia và vì thế có thể có những biến thái trong các điều luật của con người, nhưng mục tiêu của tất cả các nền đạo đức là thành đạt Chân Phúc Tối Cao và vì thế không thể nói đạo đức chỉ có tính cách tương đối. Chúng ta không thể nói rằng mục tiêu tối thượng của cuộc sống con người là không phạm tội trộm cắp vì điều cần đạt được là xu hướng phạm tội trộm cắp phải được loại bỏ. Không thể nói mục tiêu của cuộc sống là không phạm tội dối trá nhưng điều quan trọng là xu hướng nói dối vị kỷ phải được loại trừ khỏi tâm trí con người. · Shrii Shrii Anandamurti Yama – Cân bằng xã hội Năm nguyên tắc sau đây của Yama có mục đích giúp chúng ta đạt được một ý thức tích cực về cân bằng trong các quan hệ với xã hội. 1.Không làm hại (Ahimsa) – Mỗi hành động làm ra không được có ý định gây hại cho bất cứ người nào hoặc vật gì bằng tư tưởng, lời nói hoặc hành động. Chừng nào con người còn bị trói buộc vì lòng ham muốn gây hại hoặc trục lợi, bước tiến bộ để đạt đến thanh tĩnh và hiểu biết của người đó còn bị ngăn cản. Nhưng động lực của cuộc sống đôi khi cũng bao hàm cả sức mạnh. Chúng ta có thể lấy một sinh vật làm ví dụ căn bản, mỗi khi chúng ta thở, chúng ta đang giết đi hàng ngàn vi sinh vật. ở đây chúng ta không có ý định gây hại cho các vi sinh vật này nhưng chúng ta chỉ thở. Trong những thí dụ khác, có thể cần phải dùng đến võ lực để bảo vệ mạng sống và tự do cho con người và điều này phù hợp với Ahimsa chừng nào hành động không thúc đẩy vì thù hận hoặc giận dữ. Trong quá khứ, nhiều người đã hiểu sai Ahimsa và cho nó đồng nghĩa với bất bạo động, bao gồm cả việc không tự bảo vệ cho mình và cho người khác. Nếu một người bị tấn công, hoặc nếu những người khác bị tấn công, đàn áp hoặc tước bỏ các quyền hạn, bổn phận của chúng ta là phải làm hết sức mình để đảm bảo được rằng những kẻ đàn áp hoặc bóc lột người khác phải bị ngăn cản làm các việc xấu đó. Đôi khi trong những trường hợp này, chúng ta phải dùng đến võ lực. 2.Chân thật có từ tâm (Satya) – Phải hướng dẫn các tư tưởng, lời nói, hành động với ý nghĩa an toàn. Satya có thể giải thích như một sự thật tương đối. Nhiều tờ báo hàng ngày nói lên được sự thật nhưng không phải là sự thật có kèm theo tinh thần an toàn. Con người là những sinh vật biết suy luận, vì thế tư tưởng và hành động phải được hướng dẫn bởi những xem xét với lòng từ tâm để đảm bảo an toàn và hạnh phúc cho mọi người. Có đôi lúc chúng ta phải sửa đổi những chi tiết của sự kiện một chút để ngăn ngừa những tai hại lớn hơn có thể xảy ra. Chẳng hạn, giả sử bạn đang ngồi dùng cơm với người mẹ giả của bạn (bị yếu tim). Thình lình, chuông điện thoại reo lên và bạn được thông báo một người trong gia đình bạn mới qua đời. Bạn có báo ngay tin đó cho mẹ bạn không khi điều đó có thể làm bà lên cơn đau tim đột ngột – hoặc bạn sẽ từ từ và nhẹ nhàng nói cho mẹ bạn biết? Đây là một hoàn cảnh mà ta phải dùng đến Satya là cần thiết. 3.Không trộm cắp (Asteya) Không được lấy hoạc suy tính lấy bất cứ vật gì thuộc quyền sở hữu của người khác. Trong nỗ lực đạt được sự cân bằng đích thực trong quan hệ với người khác, tư tưởng trộm cắp cũng xấu a không kém hành động trộm cắp. trôm cắp có thể có 4 loại: a) ăn cắp bằng hành động bất cứ vật hữu hình nào. b) Dự tính ăn cắp nhưng chưa thực hiện c) Không đưa cho người khác những gì thuộc quyền lợi của họ cũng là ăn cắp d) Dự định ciếm đoạt của một người nào những gì thuộc về quyền lợi của họ. Khi một người trộm cắp, người ấy đã tạo cho mình một bản năng có hại cho sự tiến bộ tinh thần của mình, và ngay cả khi dự tính trộm cắp, cũng làm cho người ấy trở nên tham lam. Các dục vọng bị che giấu cũng là một loại trộm cắp vì chúng đến từ lòng ghen ghét. Chúng ta phải bằng lòng với những gì mình đang có. Phải tuyệt đối chân thật, Chúng ta không thể xây dựng một xã hội con người lành mạnh nếu những bức tường nghi ngờ ngăn chặn những con suối tình thương. Vật chất sẽ không bao giờ mang đến hạnh phúc thực sự, nhưng chỉ có niềm vui kết hợp với ý Thức Tối Cao. Tâm trạng này bắt nguồn từ tình yêu vị tha và chúng ta sẽ không bao giờ đạt được bằng lòng tham lam và những dục vọng trần tục. Hãy giúp những người khác sống đạo đức trong lĩnh vực này bằng cách đảm bảo rằng không ai bị thiếu nhưng điều kiện cần thiết để duy trì cuộc sống của họ. 4.Không phóng túng (Aparigraha) – Không được dùng những tiện nghi của cuộc sống quá mức cần thiết cho việc giữ gìn bản thân. Đây là một nguyên tắc vì sinh thái - Phải giảm thiểu mức tiêu pha tài vật của bạn, nhưng đây cũng làmột nguyên tắc về sinh lý nữa. Khi chúng ta khư khư giữ lấy một cái gì mà chúng ta không thực sự cần thiết, chúng ta sẽ nuôi dưỡng trong tâm trí ta một xu hướng chống lại những điều thực hành về tinh thần. Rõ ràng việc hưởng thụ quá mức các tiện nghi vật chất sẽ làm cho tâm trí ta trở nên ngu đần và các nỗ lực tinh thần trở nên khó khăn hơn. 5.Công nhận sự liên hệ với Đấng Tối Cao (Brahmacarya)- Trạng thái tâm trí này làm chúng ta thấy được mỗi người và mỗi vật là biểu hiện của Đấng Tối Cao. Khi thực hành Brahmacarya, chúng ta phải mở rộng tâm trí ta để đào bới vào những vùng sâu thẳm mờ mịt của vạn vật, và phải thấy rằng chỉ có một năng lực duy nhất và một ý thức duy nhất thâm nhập tất cả các hình thái. Một người nắm vững Brahmacarya sẽ không bao giờ làm hại, nói dối vì vị kỷ, trộm cắp hoặc bóc lột người khác vì phóng túng quá mức. Đây là một điều luật Yama mà chúng ta khó tuân theo, nhưng nếu chúng ta tiếp tục con đường Thiền và cố gắng áp dụng những nguyên tắc khác của của Yama và Niyama trong cuộc sống của chúng ta, thì dần dần chúng ta sẽ có được cái nhìn này. Brahmacarya là làm ta liên hệ chặt chẽ với đấng Brahma (ý Thức Vũ Trụ). Nếu con người nhìn vào mỗi vật như một thực thể hữu hạn, thô sơ, tâm trí của người ấy sẽ bị các vật thể hữu hình ấy xâm chiếm, và ý thức sẽ trở nên thô sơ. Tinh thần đích thực của việc thực hành Brahmacarya là xem các vật thể mình gặp như là những biểu hiện khác nhau của Đấng Tối Cao chứ không phải chỉ là những hình thái thô sơ. Bằng phương pháp này, dầu cho tâm trí lang thang từ vật thể này sang vật thể khác, nó cũng không xa rời Đấng Tối Cao vì cảm nghĩ vũ trụ đã có được cho từng và mỗi vật thể. Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý!Úi giời !Bà chị nói thế!Thơ chị còn sến hơn !Thở vắn than dài!) Gửi lúc 10:03, 05/04/04
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
Niyama (hội nhập cá nhân)Các nguyên tắc của Niyama giải thích dưới đây, nói nhiều về việc hội nhập của mỗi cá nhân hơn là nói về quan hệ của cá nhân đối với xã hội. Cả Yama và Niyama đều là thiét yếu và chúng ta có thể thấy cái này bổ túc cho cái kia. 1.Trong sạch (Shaoca) Trao dồi sự trong sạch cho cả thể chất và tinh thần. Một cơ thể và môi trường trong sạch có một tác dụng rất tích cực trên tâm trí, nhưng giữ cho nội tâm trong sạch cũng là điều không kém phần quan trọng. Anandamurti đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tạo nên một cơ thể cường tráng, lành mạnh và thư giãn nhờ vận động, tập các tư thế Yoga (Asana) và theo một chế độ dinh dưỡng trong sạch và cân bằng. Một số người thấy rằng ăn chay đã giúp cho họ giữ được trạng thái tinh thần trong sạch và yên tĩnh. Shaoca đòi hỏi ta phải thường xuyên cảnh giác để đảm bảo cho ta khỏi bị khuấy động vì những cái làm ô uế tinh thần như thù hận, nghi ngờ, sợ hãi, ô nhục, ghen ghét, đam mê và lòng kiêu hãnh .v.v. Một tư tưởng vị tha, một tư tưởng vũ trụ – là một liều thuốc căn bản để loại bỏ những điều làm ô uế tâm trí. Khi ta bị một vật gì làm say mê hoặc cám dỗ, ta có thể dần dần loại bỏ đi điều ô uế tinh thần bắt nguồn từ các duyên cơ vị kỷ bằng cách đi theo con đường ngược lại, nghĩa là khi bạn cảm thấy tham lam, hãy tập thói quen cho mà không đòi hỏi được đền đáp. 2.Tinh thần tự mãn (Santosa) – Một trạng thái thoải mái tâm trí đúng mức. Để đạt được trạng thái Santosa, chúng ta có thể thường xuyên tự nhắc nhở mình mặc cho những lo âu căng thẳng hàng ngày, chúng ta vẫn còn một kho dự trữ to lớn đầy tính sáng tạo và năng lực đủ cho chúng ta dùng nhằm giải quyết các vấn đề của chúng ta. Trong cuộc sống, hàng ngày có những lúc tâm trí chúng ta không hoàn toàn tập trung vào công việc chúng ta đang làm – có lẽ đó là lúc chúng ta đang đợi bác sĩ, hoặc đang đi xe buýt, hoặc đang đi dạo. Vào những lúc đó, thật là có ích biết bao nếu chúng ta thầm đọc Mantra (xem chương về Thiền và Mantra). Hình thức “Thiền bán phần” này rất có lợi cho việc phát triển Santosa. Không thể có được tự mãn nếu chúng ta thường xuyên chạy theo các lạc thú trần gian vì những lạc thú này rất phù du. Chúng ta phải bằng lòng với những gì chúng ta đang có và không nên theo đuổi các lợi ích vật chất. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là chúng ta cho phép người khác bóc lột mình, thí dụ, có lúc bạn hoặc một người khác bị bóc lột thì chúng ta có bổn phận phải sửa chữa sai lầm để làm cho tình hình tốt hơn và chắc chắn không phải Satosa đã bỏ qua vấn đề để được “bình yên” 3.Khổ hạnh (Tapah) Thực hành việc hy sinh các lạc thú cá nhân nhỏ nhen cho niềm vui lớn phục vụ kẻ khác. Đây thực sự là một phần trọng yếu để đạt được hội nhập cái Tôi đích thực. Chúng ta không sống riêng lẻ và theo lời một vị thánh giáo phái Hasidic (một phái của Do thái giáo), “kẻ nào đi lên Thiên đường một mình sẽ không bao giờ đến được” Trong mỗi sinh vật đều có ước vọng đạt đến cái Vô hạn và khi chúng ta mở rộng tâm trí của ta bằng Thiền, chúng ta sẽ cảm thấy được nỗi sâu sắc rằng ước vọng quán thế đó cũng là của chúng ta. Vào lúc này, việc tự nhiên mà chúng ta phải làm là chia sẻ với người khác về các phương diện vật chất, tâm trí và tinh thần. Qua cảm thông, chúng ta nhận thức được bản chất chung của chúng ta và dẫn dắt người khác đi theo con đường bằng gương sống của chúng ta. Thước đo đích thực mức độ tiến bộ mỗi người trên con đường tinh thần không phải là bạn biết nhiều như thế nào, mà là bạn yêu thương đến mức độ nào tất cả sinh vật và mọi vật. Vì tư tưởng chỉ đạo của việc luyện tập tinh thần là hội nhập mình vào mọi vật, chúng ta không thể nghĩ rằng người này hoặc vật kia tách rời chúng ta. Cho nên nếu chỉ nghĩ đến hạnh phúc của ta mà không đồng thời nghĩ đến phục vụ các nhu cầu của người khác, thì chúng ta chỉ làm gia tăng ý nghĩ tách rời mà thôi. Có nhiều hình thức phục vụ cho người khác, sinh vật khác và cây cỏ nữa. Thực vậy, chúng ta phải nỗ lực giúp đỡ tất cả các hình thái sinh vật trên con đường tiến đến mục tiêu Vô hạn. 4.Nghiên cứu các kinh sách (Svadhyaya) – Nghiên cứu các kinh và sách hay để hiểu thấu đáo ý nghĩa. Chúng ta phải hiểu câu “ý tại ngôn ngoại” và vượt qua các giáo điều hoặc nghi lễ để nắm được chân nghĩa Svadhyaya, nhiều tôn giáo đã đi đến chỗ suy đồi và con người bị hỗn loạn. Chúng ta không nên mù quáng, chấp nhận lời nói của bất cứ ai mà không đích thân đào sâu, suy nghĩ để hiểu rõ ý nghĩa. 5.Tìm nơi thường trụ của Đấng Tối Cao (Iishvara Pranidhana) - Đây là nguyên tắc cuối cùng của Niyama và là chìa khoá dẫn đến con đường còn lại. Iishvara Pranidhana có nghĩa là Thiền. Nó có nghĩa là nhận thức được sự kết hợp với Đấng Tối Cao hoặc ý Thức Vũ Trụ là mục tiêu của cuộc sống, và tiến tới càng lúc càng nhanh để đạt được mục tiêu này. Iishvara thường có nghĩa là “người chế ngự vũ trụ”. Pranidhana có nghĩa là “hiểu thấu đáo một việc gì” hoặc “nhận một cái gì làm nơi trú ẩn”. Vì thế Iishvara Pranidhana có nghĩa là đạt được ý tưởng vũ trụ, chấp nhận Iishvara làm lý tưởng duy nhất của cuộc sống. Đây là một nỗ lực hoàn toàn thuộc về tâm trí gồm cả việc tiến lên càng lúc càng nhanh để đến được nơi trú ẩn tối cao đó là Thiền. Ananda Marga đã chỉ dạy rằng kỹ thuật căn bản của Iishvara Pranidhana là suy tư về Mantra bản thân mình. Trong khi Thiền, chúng ta hướng tâm trí mình quy tụ vào Mantra, vào cả các rung động và ý nghĩa của nó. Việc này chỉ có thể thực hiện bằng Thiền, đặc biệt là Thiền tập thể, nhờ đó một làn sóng tinh thần mạnh mẽ được tạo ra. Nhưng quá trình này được tiến hành trên những mức độ khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Càng nắm vững Iishvara Pranidhana, chúng ta càng tiến tới phù hợp với những nguyên tắc khác của Niyama. Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý!Úi giời !Bà chị nói thế!Thơ chị còn sến hơn !Thở vắn than dài!) Gửi lúc 17:37, 06/04/04
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
Chương 4: Các tư thế Yoga bài tập A’sanasA''sanas hoặc cái “tư thế dễ dàng ” là một hệ thống khoa học gồm các bài tập luyện đã được vị thấy Yoga hình thành qua nhiều ngàn năm. Các bài tập này không những chỉ duy trì sức khoẻ cho cơ thể bằng cách kích thích tuần hoàn, làm mềm dẻo các khớp cơ xương, làm cứng cáp bắp thịt và xoa bóp các cơ quan nội tạng, nhưng chúng còn giúp làm yên tĩnh và chế ngự tâm trí. Các bài tập Yoga hoàn toàn khác biệt với các môn vận động mạnh mẽ và mãnh liệt: trong các bài tập A''sanas, các chuyển động nhẹ nhàng, chậm rãi kèm theo hít thở sâu, xen kẽ với những giai đoạn hoàn toàn bất động, nhờ đó tạo được thư giãn tối đa cho các bắp thịt và dây thần kinh. Trong suốt thời gian tập A''sanas, sinh lực được tăng cường chứ không bị tiêu hao, như thế nhờ thường xuyên tập luyện, vị thầy Yoga đã tích luỹ được một kho năng lực nội tại để tâm trí sử dụng nhằm đạt đến những tầm mức ý thức cao hơn. Bằng cách tâp cho thần kinh yên tĩnh, cơ thể bắt động trong nhiều thời gian dài, ta có khả năng chế ngự các hệ thống bắt thịt và thần kinh, và đạt được tư thế cân bằng thể xác cần thiêt cho việc thiền lâu dài. Nhưng tác dụng quan trọng nhất của các bài tập A''sanas là đối với các tuyến nội tiết. Các tuyến nội tiết có một ảnh hưởng sâu xa với các xúc cảm và tình trạng của ý thức chúng ta. Sức ép tinh tế của các bài tập A''sanas trên các tuyến nội tiết tác động đến việc tiết xuất các kích thích tố và đem lại cân bằng xúc cảm và thanh tĩnh tâm trí. Những tuyến này còn được gọi là những tuyến không có ống dẫn, bởi chúng chuyển chất nội tiết vào thẳng các mạch máu thay vì vào các ống dẫn nội tiết. Các tuyến nội tiết này là tuyến tuỵ, tuyến giáp trạng, phó giáp trạng, tuyến thượng thận, các tuyến sinh dục, tuyến yên và tùng quả. Các xúc cảm tinh thần như sợ hãi, phiền muộn, giận dữ, ghen ghét, thù hận, yêu thương và vui thích đều được ghi nhạn là ảnh hưởng đến cơ thể chúng ta, nhất là hệ thống nội tiết, tuỳ theo cường độ của các xúc cảm này. Trong những cơn phiền muộn và sợ hãi đến cùng cực, có thể dẫn đến cái chết. Các xúc cảm này giống như làn sóng chấn động tác động đến hệ thần kinh và dẫn đến sự suy thoái các tuyến nội tiết. Hệ thống nội tiết được điều khiển bởi thần kinh giao cảm và thần kinh số 10. Các bài tập A''sanas thật là cực kỳ quan trọng vì chúng có tác dụng trị liệu đối với các tuyến nội tiết, kèm theo tác dụng thư giãn nữa. Khả năng duy trì được trạng thái cân bằng thư giãn này có tác dụng tâm lý rất quan trọng. Nhờ luyện tập thân thể, các thầy Yoga dần dần luyện được cách giữ sự cân bằng tâm lý ổn định và tạo được sự yên tĩnh hoàn toàn về tâm lý trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chúng ta không cần phải tập những bài A''sanas lâu dài và phức tạp. Tuy theo những nhu cầu của riêng cơ thể bạn, ta chỉ cần tập vài bài mỗi ngày. Vĩ mỗi chúng ta có những bất quân bình riêng. Tập một vài tư thế này có thể tốt cho một số người nhưng lại không tốt cho người khác và ngược lại. A''sanas, cũng như các bài tập Yoga khác, là một phần của một hệ thống luyện tập tâm lý hài hoà, một bước đi trên con đường dài, nên cần sự dẫn dắt của một vị thầy tinh thần đích thực. Trong A’nanda Ma’rga, bài tập A’nanda riêng cho mỗi người được vị thầy (A’ca’ryas) nghiên cứu đề ra. Tuy vậy, có một số bài tập A''sanas đơn giản mà ai cũng tập được, không có hạn chế. Tốt hơn hết là chúng ta dùng những bài tập này làm bài tập nhập môn. Ba tư thế tập này được mô tả dưới đây: - Ardhakurmaka’sanas : (Tư thế nửa con rùa) hoặc Diirgha Pran’a’ma (tư thế chào dài): Quỳ xuống, úp hai lòng bàn tay vào nhau, đưa hai tay về phía trước, kẹp chặt hai tai. Rồi cong mình về phía trước trong tư thế cúi xuống, để đầu mũi và trán chạm xuống sàn tập. Mông phải luôn luôn chạm vào hai gót chân. Khi cúi xuống hãy thở ra , duy trì hơi thở hoàn toàn trong 8 giây rồi ngẩng lên và hít vào. Tập tư thế này 8 lần. (xin lỗi vì tôi không post được hình vẽ) - Yoga’sana hoặc Yogamudra’ (tư thế Yoga): Ngồi trong tư thế tréo hai chân. Đưa hai bàn tay ra sau lưng và nắm cổ tay tría với bàn tay phải. Rồi cúi xuống cho trán chạm vào sàn tập, thở ra trong khi tập. Giữ tư thế này trong tám giây rồi ngẩng lên và hít vào. Tập tám lần. (hình vẽ) - Bhujaunga’sana (Tư thế rắn hổ mang): Nằm sấp. Nâng thân thể bằng hai bàn tay úp trên sàn tập, nâng ngực lên, ngẩng đầu về phía sau. Nhìn lên trần nhà. Hít vào khi ngước lên và khi đã ngước lên rồi giữ hơi thở rong tám giây. Hạ ngực xuống tư thế lúc ban đầu và thở ra. Tập tám lần. Các quy tắc của A''sanas A''sanas, cũng như các môn học khác, đòi hỏi một số những nguyên tắc và hướng dẫn căn bản sau đây. Những quy tắc dưới đây được đề nghị ra như một bộ phận bất khả phân của A''sanas để giúp ta đạt được những lợi ích cao nhất từ các bài tập và tránh những phản ứng bất lợi: 1. Trước khi tập A''sanas , nên tắm bằng nước mát hoặc nếu thì giờ quá eo hẹp , ta có thể rửa mát các khu vực bị nung nóng của cơ thể như : bàn chân, đầu gối, cùi chỏ, bàn tay, mặt, cổ, đỉnh đầu. Một phương thức đặc biệt đã được đề cho việc này, được gọi là “tắm sơ”. 2. Không nên tập A''sanas ngoài trời vì dễ làm ta bị cảm lạnh. Nhưng khi tập A''sanas trong nhà, phải đảm bảo có đủ không khí trong lành nhờ các cửa sổ mở rộng. Không được để khói xâm nhập vào phòng tập. 3. Nên mặc đồ lót sát người để bảo hộ các cơ quan trong khi tập A''sanas. Đối với nam giới, nên mặc đồ lót gọi là “khố” (lungota) 4. Nên tập A''sanas trên một cái mền hoặc tấm chiếu. Không nên tập A''sanas trên nền đất trống bởi vì bạn có thể bị cảm lạnh và vài chất tiết ra từ cơ thể trong khi tập A''sanas có thể bị phá huỷ. 5. Hơi thở phải giữ thông suốt qua lỗ mũi trái hoặc cả hai lỗ. Nếu bị nghẹt lỗ mũi thì đừng nên tập A''sanas (lỗ mũi trái và lỗ mũi phải thay nhau chế ngữ dòng sinh lực. Lỗ mũi trái tương ứng với dòng sinh lực tinh tế hơn và lỗ mũi phải tương ứng với dòng sinh lực thô sơ hơn. Chỉ tập A''sanas vào những giai đoạn mà sinh lực tinh tế đã thông suốt) Chúng ta có thể khai thông lỗ mũi trái bằng cách nằm trên sườn phải, gối đầu lên tay và cùi chỏ rồi hít thở đều đặn vài phút. 6. Chỉ nên ăn các thức ăn sattvik (xem chương về dinh dưỡng và sức khoẻ). Nên ăn chay 7. Đừng tập A''sanas ngay sau khi ăn no, chỉ nên tập tối thiểu từ hai giờ rưỡi đến ban giờ sau khi ăn no. 8. Sau khi tập xong A''sanas, cần phải xoa bóp toàn thân (được chỉ dẫn trong khi tập A''sanas )
9. Sau khi xoa bóp, giữ “tư thế xác chết“ ít nhất trong hai phút. Nằm trên sàn tập, đắp mền lên tới cổ để ngừa cảm lạnh. Dang tay và dang chân để thư giãn hoàn toàn, Hãy tưởng tượng như thân thể bạn đã hoàn toàn bất động như một xác chết. Nằm như vậy trong vài phút. 10. Sau khi thực hiện “tư thế xác chết”, đừng đụng tới nước ít nhất trong thời gian 10 phút và chỉ nên ăn sau đó 30 phút.
11. Sau khi tập A''sanas , nếu cần đi ra ngoài và nếu thấy thân nhiệt chưa trở lại mức bình thường hoặc nêu thấy nhiệt độ trong phòng và bên ngoài khác nhau, cần phải mặc ấm khi đi ra ngoài. Nếu có thể, nên hít mạnh khi còn ở trong phòng và thở mạnh khi đi ra ngoài. Làm như thế bạn sẽ giữ cho mành khỏi bị cảm lạnh. 12. Ngay sau khi tập A''sanas, không tập các vận động về tay, chạy hoặc tập các môn thể thao khác.
13. Không cần hạn chế hít thở bằng lỗ mũi nào và ăn thức ăn gì khi tập các tư thế A''sanas như: tư thế Hoa Sen, tư thế Hoàn Hảo, tư thế Bán Hoàn Hảo, tư thế Ngồi chéo chân, tư thế Dũng cảm, tư thế Chào dài, tư thế Yoga và tư thế Rắn Hổ Mang. 14. Phụ nữ không được tập A''sanas trong lúc hành kinh, thai sản và trong vòng một tháng sau khi sinh nở mà chỉ nên tập các tư thế Thiền.
Chương 5: Chế độ ăn uống và sức khoẻ Thể xác không phải là một cái gì khác biệt và tách rời khi tâm trí, nó chỉ là lớp vỏ ngoài cùng của tâm trí mà thôi. Khi tâm trí ngày càng trở nên tinh tế nhờ Thiền, thân thể cũng phải trở thành tinh tế như vậy, nếu không ta không có được sự song hành giữa tầng lớp tâm lý và thể xác và sự tiến bộ của chúng ta sẽ bị trì hoãn. Vì thế các vị thầy Yoga luôn đề cao tầm quan trọng của việc ăn uống chay tịnh nhằm giữ cho tế bào thân thể được trong sạch cũng giống như việc thực hành Thiền làm trong sạch tâm trí. Theo các nguyên tắc về thực phẩm của Yoga, có ba loại thức ăn, tuỳ theo tác dụng của chúng trên thân thể và tâm trí: - Thức ăn tri giác: Tốt cho cả cơ thể và tâm trí, vì thế chúng ta tăng sự tiến bộ tinh thần của chúng ta. Chúng ta nên luôn luôn chọn thức ăn này nếu chúng có sẵn. Thức ăn về tri giác bao gồm trái cây, rau cải (ngoại trừ hành, tỏi, nấm), các loại hạt, các loại đậu , sữa, và các sản phẩm từ sữa (ngoài trừ pho mát mốc), các loại hạt vỏ cứng, đường, mật, dầu thực vật, rau thơm và các gia vị nhẹ. - Thức ăn động: có lợi cho thân thể nhưng có thể không tốt cho trí óc. ở những vùng khí hậu lạnh phải cần nhiệt lượng cao, nếu dùng một lượng vừa phải thì loại thức ăn này không làm hại nhiều cho sự tiến bộ tinh thần. Loại này gồm có cà phê, trà, sô cô la, ca cao, các loại nước uống có hơi và gia vị mạnh dùng với số lượng vừa phải. - Thức ăn tĩnh: có hại cho tâm trí nhưng có thể không hại cho thân thể. Thức ăn loại này làm gia tăng khuynh hướng lờ đờ, lười biếng, buồn ngủ, tham lam, bệnh tật và đình trệ tâm trí. Chúng tạo nên nhiều chướng ngại trên con đường tinh thần và do đó nên tránh xa (trừ khi được chỉ định để trị bệnh). Loại thực phẩm này bao gồm thịt lợn, thịt bò, thịt gà , cá, trứng, tỏi, hành, nấm (ngoại trừ men), các gia vị mạnh dùng với số lượng lớn, rượu, thuốc lá và ma tuý. Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý!Úi giời !Bà chị nói thế!Thơ chị còn sến hơn !Thở vắn than dài!) Gửi lúc 08:32, 09/04/04
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
Thân thể và trí óc chúng ta là một phần quan trọng của bộ máy mà chúng ta đã được ban phát để đạt đến một trạng thái toàn thiện. Để giữ cho thân thể chúng ta được khoẻ mạnh và trong sạch, trí óc trong sáng, chúng ta nên luôn luôn dùng các loại thức ăn bổ dưỡng và trong sạch nhất. Hiển nhiên là những gì chúng ta ăn có tác dụng rõ ràng trên tâm trí và cơ thể chúng ta đặc biệt là khi chúng ta luyện tập tâm linh. Cho nên chẳng lạ lùng gì khi điều trái lại cũng được xác nhận; những luyện tập tâm linh mà chúng ta thực hành cũng tác động đến việc thực phẩm được thân thể chúng ta hấp thu ra sao và thực phẩm đó được sử dụng hữu hiệu thế nào. Đặc biệt là việc tập Asanas rất tót cho hệ tiêu hoá và sức khoẻ tổng quát cho mọi cơ quan. Một thân thể nội tại trong sạch là lành mạnh giúp cho thực phẩm được sử dụng với hiệu quả cao nhất.Theo ý niệm chúng ta ăn như thế nào cũng quan trong như cái mà chúng ta ăn. Sau đây là một vài lời khuyên được nêu ra về thói quen ăn uống: 1. Chỉ ăn khi đói – Bội thực là nguyên nhân của nhiều vấn đề và bệnh tật 2. ăn chậm rãi và nhai kỹ thức ăn – Các bữa ăn vội vã và sự căng thẳng thần kinh kèm theo là bước đưa đến tình trạng không tiêu hoá. 3. Thức ăn sống – Có nhiều khả năng tao ra một cuộc sống sinh động, khoẻ mạnh vì sự tươi nguyên giữ lại nhiều sinh tố và khoáng chất, sẽ bị huỷ hoại nếu bị nấu nướng hoặc chế biến thực phẩm. 4. Chỉ ăn khi bình tĩnh và thư giãn- Khi cơ thể bị các xúc cảm tác động thì sự tiêu hoá cũng bị cản trở vì căng thẳng, giận dữ và các trạng thái tinh thần tiêu cực khác. Một vài phút trầm tư ngưỡng mộ cái Vô hạn cũng là một cách rất tốt để trí óc hết căng thẳng và thêm bình tĩnh trước khi dùng bữa ăn. 5. Dùng các bữa ăn cách nhau khá lâu – Tiêu hoá là một quá trình khá phức tạp, và vì mỗi loại thức ăn chỉ được tiêu hoá trong một môi trường hoá hoạc riêng, nếu ta dung những loại thực phẩm khó tiêu hoá thì có thể làm đảo lộn và ngưng trệ quá trình tiêu hoá. 6. Hãy uống nhiều nước – Một lượng nước thích hợp sẽ giúp đảm bảo loại bỏ các chất bã, điều hoà thân nhiệt và giúp cho tiêu hoá. Tuy vậy, không nên uống nhiều nước trong vòng nửa giờ trước và sau các bữa ăn vì việc làm này có thể làm loãng các dịch tiêu hoá, dẫn đén tiêu hoá và hấp thu không hoàn toàn. 7. Thấy được cái Duy nhất – Thực phẩm là năng lượng – một biêt hiện của ý Thức Vũ Trụ. Nó được sử dụng để duy trì cơ thể, cần thiết cho các luyện tập tinh thần. Vấn đề chay tịnh - ăn thịt có hại gì không? 1. ăn thịt có phải là điều tự nhiên của con người không?? Hệ tiêu hoá, răng và cơ cấu hàm, bản năng tự nhiên và các chức năng cơ thể của con người và loài vật ăn thịt hoàn toàn khác biệt nhau. Các động vật ăn thịt có chung những đặc tính duy nhất làm chúng khác xa các thành phần khác của hệ động vật: - Đường ruột rất ngắn, chỉ gấp ba lần chiều dài thân thể để nhanh chóng tống xuất các loại vi khuẩn làm hư thối từ các loại thịt đã thối, - Bao tử có số lượng hydrochloric acid gấp mười lần các động vật không ăn thịt, để tiêu hoá được các mô có sớ và xương, - Hàm nhai chủ yếu theo chiều lên xuống, răng nanh dài và nhọn sắc, không có răng hàm. Con người rõ ràng tự bản chất không phải là động vật ăn thịt - hệ cơ thể và hệ thiêu hoá của nó cho thấy nó đã tiến hoá qua hàng triệu năm, sống nhờ vào trái cây, trái có vỏ cứng, hạt và rau cải. Giống như khỉ – người, ruột của con người dài gấp mười hai lần thân thể, được hình thành cho việc tiêu hoá chận rãi trái cây và rau củ, rất chậm hư thối. 2. ăn thịt có nguy hiểm gì không? - Đó là một hình thức đầu độc. Ngay trước khi và đang lúc khắc khoải đợi chờ bị hạ thịt, cơ cấu sinh – hoá của con vật bị hoảng sợ phải trải qua những thay đồi sâu sắc trong khi nó đang vô vọng bám víu vào cuộc sống. Các phó sản độc hại và số lượng lớn thận-tuyến tố được tiết ra trong cơ thể và do đó đã đầu độc một cách đau đớn toàn thể xác con vật. Theo bộ Tự điển Bách khoa Brittanica, các độc tố trong cơ thể, bao gồm acid uric và các chất thải độc hại khác đều có mặt trong máu và các mô: “… chất prô-tê-in lấy từ các hạt vỏ cứng, cac hạt họ đậu (đậu lăng –ti, các loại đậu…), hạt ngũ cốc và sản phẩm làm từ sữa được coi là tinh khiết hơn thịt vì thịt bò chứa 56% nước không tinh khiết” Các chất mỡ của thịt động vật, chẳng hạn như chất Cholesterol bao gồm các thành của mạch máu và khi các sinh vật ăn thịt già đi, lỗ thông các mạch máu càng co nhỏ lại. Sức ép trên tim sẽ gia tăng và gây ra các bệnh suy tim, huyết áp cao và đau tim. Trong xã hội của chúng ta (với lượng thịt tiêu thụ cao nhất thế giới), một trong số bốn người sẽ chết vì các bệnh tim mạch trong khi người ta hầu như ít nghe tới các bênh này trong những xã hội tiêu thụ ít thịt. Trong số các chất thải quan trọng chứa đầy cơ thể của một người ăn thịt, là chất u-rê và acid u-ric (các hợp chát nitrogen). Chặng hạn, nửa ký thịt bò rán (bít- tết) chứa khoảng 14 gram acid uric. Một bác sĩ người Mỹ khi phân tích nước tiểu của các người ăn thịt và người ăn chay, nhận thấy thận của những người ăn thịt phải làm việc gấp ba lần thận của người ăn chay để thải đi các hợp chất đạm tố độc hại trong thịt. Khi người ta còn trẻ, họ có thể đảm đương được gánh nặng dư thừa này, vì thế ta không thấy triệu chứng tổn hại hoặc bệnh tật xuất hiện; nhưng khi những trái thận lão hoá và trở thành hư hao quá sớm thì chúng không còn khả năng làm việc hữu hiệu và khi đó các bệnh về thận xảy ra. Khi các trái thận không còn khả năng loại trừ cac chất độc so việc ăn thịt, các acid uric không được loại bỏ sẽ tích tụ trong cở thể. sau đó, nó sẽ được các bắp thịt hấp thu giống như một bọt biển hút nước, rồi độc tố này sẽ cứng lại là tạo thành các tinh thể. Khi việc này xảy ra ở khớp xương, ta sẽ bị các cơn đau nhức vì thống phong, thấp khớp hay phong thấp. Khi acid uric tích tụ trong các dây thần kinh, chúng ta sẽ bị chứng viêm thần kinh và đau thần kinh toạ. Ngày nay các bác sĩ đã khuyên các người bị bệnh này phải ngừng ăn thịt hoặc chỉ ăn rất ít. 5. Chúng ta có làm một việc đúng khi giết các con vật không? Vì chúng ta có thể sống mạnh khoẻ mà không cần ăn thịt nên chúng ta cũng cần tự vấn việc ăn thịt có phải là một hành vi đạo đức và nhân đạo không? Rõ ràng là các con vật không tự nguyện dâng hiến sinh mạng của chúng để chúng ta có thể thoải mái ăn thịt. Nhiều tôn giáo và các nhóm tinh thần đã khuyên chúng ta ăn chay vì biết rằng mạng sống là thiêng liêng và cần phải sống không gây đau khổ. “Khi có thể, chúng ta nên chọn dùng các loại thực phẩm có tương đối ít sự phát triển ý thức, nghĩa là nếu rau cải có sẵn, chúng ta không nên giết các thú vật. Thêm nữa, trước khi giết một con thú có ý thức phát triển hoặc kém phát triển, chúng ta cũng nên xem xét đến việc khồng cần giết các con thú mà vẫn có thể sống khoẻ mạnh được” Shrii Shrii Anandamurti 6.Chính sách gây đói kém- Thịt là món ăn lãng phí và vô hiệu quả nhất. Để sản xuất thịt, nhiều diện tích đất đai đã được dùng đến trồng cỏ cho trâu bò ăn. trâu bò tiêu thụ một lượng đạm và nhiệt lượng gấp 10 lần số lượng chúng cung cấp bằng thịt của chúng. Nói cách khác, 90% số lượng này bị mất đi một cách phung phí. Nếu ta cộng chi phí về thức ăn cho gia súc vào các chi phí chăn nuôi khác, chúng ta sẽ thấy chi phí tạo prô-tê-in từ thịt gấp khoảng 20 lần chi phí sản xuất prô-tê-in từ thực vật. Thay vì lãng phí đất để sản xuất thịt, các khu vực đất đai này sẽ được sử dụng hữu hiệu hơn nếu canh tác chúng để trồng các loại hạt đậu và các cây họ đậu tao ra thức ăn trực tiếp cho con người. Thí dụ, một mẫu Anh đất (khoảng 4.046 m2) dùng để nuôi một con bò sẽ cung cấp gần nửa kí lô prô-tê-in động vật, nhưng nếu dùng diện tích này để trồng đậu nành thì ta sẽ được khoảng 8 kí lô prô-tê-in đậu nành. Hơn nữa, đậu nành rất bổ dưỡng, chứa ít chất béo và hoàn toàn không có các độc tố như thịt. * Thay vì dùng số dự trữ ngũ cốc của chúng ta nuôi các gia súc, chú người ta đem phân phát cho người nghèo thiếu dinh dưỡng thì ta sẽ dễ dàng nuôi ăn đủ cho các dân tộc bị đói triền miên trên thế giới. * Nếu chúng ta chỉ ăn nửa số thịt chúng ta đang tiêu thụ, chúng ta sẽ có đủ thực phẩm để nuôi ăn cho toàn thế giới “đang phát triển” * Gần đây, các chuyên gia dinh dưỡng nghiên cứu và cho biết rằng chỉ cần giảm việc sản xuất thịt 10% là có đủ ngũ cốc để nuôi 60 triệu người. * Thật là một sự thật chua chát và phũ phàng nếu ta biết rằng từ 80 đến gần 90 % số thu hoạch ngũ cốc ở Mỹ được dùng để nuôi gia súc. * Cách đây 20 năm, một người Mỹ trung bình ăn gần 23 kg thịt mỗi năm. Năm nay, mộtngười Mỹ sẽ ăn khoảng 60 kg thịt bò (đó là chỉ riêng thịt bò mà thôi). Vì người Mỹ có “chỉ tiêu dùng thịt” nen họ thường ăn gấp 2 lần số prô-tê-in được đề nghị hàng ngày. Tìm hiểu những sự thật đằng sau “cơn thiết hụt thực phẩm” là căn bản cho việc nhận thức nhằm sử dụng các tài nguyên thế giới thích đáng* Quyết định ăn thịt hay không rõ ràng là một vấn đề cá nhân, những dựa vào những luận cứ nêu trên, thật khó mà ủng hộ cho việc ăn thịt. (Dĩ nhiên chỉ ó ngoại lệ khi được bác sĩ khuyên dùng để chữa bệnh về thể xác) Nhịn ăn theo tuần trăng – ekadashi Trong chữ Phạn, ekadashi có nghĩa là “ngày thứ 11” và chỉ thời gian sau lúc trăng tròn và trăng non khi mặt trăng được mặt trời hỗ trợ và tạo nên một sức hút mạnh đối với trái đất. Từ thời cổ, các nhà duy linh đã thực hiện việc nhịn ăn vào các ngày Ekadashi này vì sự bảo vệ thể chất tâm trí và tinh thần. Do đó, Ekadashi được hiểu là nhịn ăn vào ngày thứ 11 sau lúc trăng tròn và trăng non. Giống như trái đất, cơ thể con người gồm 80% chất lỏng và 20% chất rắn. Đây là điều kiện sinh học căn bản giúpp chúng ta thấu hiểu ý nghĩa khoa học của việc nhịn ăn Ekadashi. Chúng ta đều biết thuỷ triều lên vào những ngày trăng non và trăng tròn và thuỷ triều xuống vào ngày thứ bảy của tuần trăng. Trái đất và mặt trăng hút lẫn nhau nhưng có những ngày sức hút này mạnh hơn vì chúng gần nhau. Chính sức hút này đã tạo ra thuỷ triều ở các đại dương và tất nhiên cung phải có thuỷ triều sinh học lên, xuống do mặt trăng điều khiển. Sức hút của mặt trăng tạo nên một tác động vào các chất lỏng trong cơ thể con người cũng giống nó tác động vào các đại dương của hành tinh này. Ông Arnold Lieber, một chuyên viên tâm thần ở Miami. Florida đã khám phá rằng các dòng thuỷ triều sinh học đã tác động đén tâm tính và hành vi của chúng ta. Nhiều bệnh viện tâm thần cho biết vào các ngày trăng tròn và trăng non, hành vi của các bệnh nhân tâm thần càng lúc càng bị kích động và kỳ quái. Trong một bài viết có nhân đề “Mặt trăng có điều khiển tâm tính của bạn không?” Edga Ziegler cho biết Sở cứu hoả Phoenix , tiểu bang Arizona báo cáo đã nhận được số lần gọi điện thoại tăng thêm từ 25 đến 30 lần vào những đêm trăng tròn. Có bằng chứng cho thấy những ngày thuỷ triều lên khi mặt trăng đến gần trái đất nhất, những người bị suy nhược cơ thể và tâm thần phải chịu nhiều tác động xấu hơn. Các cuộc nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của các thiên thể dối với chúng ta. Chúng đã gây ra những bất quân bình về kích thích tố về các chất lỏng cà nắm một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các bệnh thể xác và các hành vi bất thường về tâm lý. các tuyến và kích thích tố sinh lý trong cơ thể chúng ta là nguyên nhân tâm-sinh lý của một số biểu hiện tâm trí được gọi là “vrttis”, chẳng hạn như sợ hãi, tham lam, thù hận, đam mê và giận dữ… Nếu những tuyến này bị mất quân bình, các chát nội tiết sẽ trở nên bất bình thường, thí dụ như các trạng thái cao hoặc thấp đưa đến các biểu hiện bất bình thường hoạch là “vrttis”. Nhiều trạng thái “vrttis” này có thể bị tác động bưỏi thuỷ triều sinh học của mặt trăng, chủ yếu là do những nhiễu loạn hấp lực. Còn có những lực khác cũng gây ra mất quân bình tâm-sinh lý. da của thân thể chúng ta là một màng bán thấm, cho phép các lực điện từ di chuyển theo hai chiều để tạo một thể cân bằng động lực. Lieber đã nói “mỗi xung động thần kinh sinh ra một năng lực nhỏ, mỗi tế bào giống như một hệ thái dương cỡ nhỏ đều có điện từ trường mớ yếu của nó. Có thể các lực điện từ lớn phát sinh từ các thiên thể đã tác động đến thế quân bình của của các tế bào “vrttis” (vi-ti). Khi thuỷ triều lên rất cao, hoạt động điện từ ở vùng lân cận cũng gia tăng do các bức xạ điện từ bắn đi từ mặt trăng. tình trạng này kích thích hệ thần kinh và làm yếu các dây thần kinh”. Khi nghiên cứu một số bênh suy nhược thần kinh, Lieber đã ghi nhận việc tái xuất hiện các triệu chứng suy nhược, nôn nao, mất ngủ và tim đạp nhanh trong các ngày thuỷ triều lên cao. Người ta cũng thường nhận thấy các cơn đau do sám kim gây ra nhiều nhất là vào các ngày thuỷ triều dâng cao và tác động xảy ra từ thời gian Ekadashi đến các ngày trăng non và trăng tròn. Trai giới trong thời kỳ Ekadashi bao gồm cả nhịn ăn và nhịn uống, như thế mới tạo ra được khoảng trống trong đường tiêu hoá để chống lại sức hút của mặt trăng. Cũng cần để ý là tác động của thủy triều mạnh nhất trong suốt thời gian từ kỳ Ekadashi đến lúc trăng tròn và trăng non. Phải mất ba ngày cơ thể mới lấy lại được mức chất lỏng bình thường sau một ngày nhịn ăn uống. Vì vậy , tác dụng đối kháng của trai giới kỳ Ekadashi sẽ tồn tại hầu như suốt giai đoạn thuỷ triều lên. Nhờ tác dụng quân bình này, việc nhịn ăn uống tạo được nhiều lợi ích cho cả cơ thể và tâm trí. Lưọi ích đầu tiên và quan trọng nhất là duy trì thế quan bình của kích thích tố và các chất nội tiết khác trong các tuyến và tế bàovà giúp điều khiển chức năng của tất cả các cơ quan, các thay đổi hoá học, sự tăng trưởng của các tế bào và các chuyển hoá sinh học khác. Mọi người trên 12 tuổi nên thực hiện trai giới vào thời kỳ Ekadashi. Trai giới vado các ngày trăng tròn và trăng non con mang lại những kết quả tốt hơn. Việc bắn phá của các lực điện từ vũ trụ vào các tế bào nhỏ bé của chúng ta sẽ bị giảm hoặc không có tác dụng nào hết, nhờ vậy, thế quân bình sẽ được đảm bảo hữu hiệu hơn. Qua thử nghiệm , người ta thấy các bệnh nhân suy nhược thần kinh được chữa khỏi nhờ các kỳ trai giới có hệ thống này. Nhiều trạng thái bật bình thường của tâm trí mà nhiều người trên thế giới này vấp phải, sẽ bị giảm bớt. Sự kích thích tính dục quá độ, giận dữ, sợ hãi, tham lam và đam mê … sẽ được thăng hoa nhờ các kỳ trai giới này. Ngay cả bệnh huyết áp cao cũng có thể bị chế ngự một cáchs hữu hiệu. Nhiều người sợ rằng nhịn ăn sẽ làm họ suy nhược. Đây là một nỗi sợ hãi không đúng. Nhịn ăn một ngày sẽ làm bộ máy tiêu hoá được nghỉ ngơi, do đó sẽ giúp cho bộ máy này hoạt động tốt hơn trong tương lai. Hơn nữa, trai giới vào kỳ Ekadashi còn có ý nghĩa đặc biệt đối với những người tập Thiền. Nó giúp chuyển biến các chất trong cơ thể thành các chất tinh tế như phần ngoại chất (citta) của trí não và còn lên những mức độ cao hơn nữa. Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý!Úi giời !Bà chị nói thế!Thơ chị còn sến hơn !Thở vắn than dài!) Được mitthoi sửa chữa / chuyển vào 15:12 ngày 15/04/2004 Gửi lúc 17:26, 14/04/04
|
mitthoi
 ,Vietnam Thành viên từ 19:24, 11/01/02
Đã được 5 người bình chọn (4.20)
|
Chương 6: Thiền và mantraThiền là gì? Thiền thường được hiểu là ngồi yên, trầm tư mặc tưởng, phân tích hoặc suy nghĩ về một luận cứ, một bài thơ hoặc một bài kinh. Đôi khi nó cũng được hiểu là ngồi xuống , nhắm mắt lại và giữ cho trí óc không suy nghĩ gì cả, nhờ vậy giữ cho tâm trí được thanh thản bằng cách tránh thoát các vấn đề. Cả hai cách hiểu này đều không đúng với ý nghĩa đích thực về Thiền Yoga. Theo thuật ngữ Yoga, Thiền được gọi là “Dhyna” nghiã là “dòng chảy của tâm trí”. Đây là một trạng thái tinh khiết và tập trung cao độ khi tâm trí xuôi chảy không gì ngăn trở , hoàn toàn đắm mình trong ý nghĩ của ý Thức Vũ Trụ. Mặc đù, một người mới nhập môn , mỗi lúc chỉ có thể giữ cho tâm trí tập trung vào Thiền trong vài giây mà thôi, nhưng với sự giúp sức của các kỹ thuật Thiền đã được điều chỉnh cho thích hợp với khả năng mỗi cá nhân, người tập sẽ dần dần đạt được tư duy và cảm nghĩ cao cả. Khi Thiền đã trở thành chủ quan, nghĩa là khi tâm trí của người Thiền mở rộng vô hạn đến nỗi không ý thức cá nhân nào còn tồn tại, đó là lúc đã đạt được Đồng Nhất Vũ Trụ, gòi là “Samadhi”, trạng thái này được gọi là “Anandam” hoặc Chân Phúc Vũ Trụ vì ý thức hoàn toàn được giải thoát khỏi những trói buộc của bản ngã và đồng hoá vào ý Thức Duy Nhất mênh mang trong vũ trụ biểu hiện của trí óc và hấp thụ chúng, nếu không, sức mạnh tâm trí sẽ bị tiêu tan vì sự phân trí nội tại và ngoại tại. Để điều khiển tâm trí trong khi Thiền, chúng ta cần có điểm tập trung. Tâm trí muốn đi đến điều gì thích thú, vì nhế nhờ sử dụng một Mantra hoặc một rung động âm thanh đặc biệt, tâm trí sẽ được hướng về điều thích thú nhất – ý Thức Vô Hạn. “Mantra ” theo từ nguyên, có nghĩa là “cái gì giải thoát tâm trí”. Trong khi Thiền, tâm trí ta tập trung lên từ này. Các Mantra (các điều giải thoát tâm trí) là những từ của ngôn ngữ Phạn (sẽ được giải thích ở phần sau trong chương này) Những tinh chất của Mantra Có những cái được gọi là “Mantra”, dùng cho những mục đích khác nhau, nhưng muốn thực sự thành đạt được mục đích “cái giải thoát tâm trí” , Mantra cần phải có những tính chất sau: 1. Nhịp nhàng 2. Có khả năng như một câu thần chú 3. Có khả năng tạo ra ý tưởng. 1. Nhịp nhàng: Nó phải có hai vấn đề chuyển động nhịp nhàng với hơi thở vì hơi thở có tác động sâu xa trên trạng thái ý thức mỗi người. Chắc hẳn bạn cũng để ý thấy rằng khi bạn giận dữ hoặc lo âu, hơi thở của bạn nhanh và ngắn, những khi bạn tập trung tâm trí trong công việc, bạn thở chậm và sâu. Chức năng hít thở có liên quan tới dòng chảy của sinh lực trong cơ thể bạn, gọi là Prana và chính dòng sinh lực này cũng tác động đến tâm trí. Nếu hơi thở nhanh và không đều, Prana sẽ trở thành không vững và giao động, lúc đó tâm trí trở thành rối loạn, tri giác và suy nghĩ trở nên lờ mờ. Do đó, điều khiển hơi thở (Prana-yama) là một phần quan trọng của việc tâp Yoga. Hơi thở càng chậm và đều đặn thì việc vận hành prana càng điềm tĩnh hơn và việc tập trung và điều khiển tâm trí sẽ càng cao hơn. Đừng hỏi em đi đâu Bởi em là cơn gió Gió cuốn tận trời sâu Cuốn cả tim anh đó
(bà chị ơi, đổi cái chữ kí thơ bựa bựa của chị bằng thơ của em nhá-Thơ mày sến như là con ...hến ý!Úi giời !Bà chị nói thế!Thơ chị còn sến hơn !Thở vắn than dài!) Gửi lúc 17:24, 16/04/04
|
|
| |
|
|
|
Các chủ đề liên quan |
| |