Bạn chưa đăng nhập,
hãy nhấn vào đây để đăng nhập

12347391 người đang duyệt site , trong đó có 15466 thành viên
 
 

Tất cả các diễn đàn
Giáo dục, đào tạo, học đường
 

Đề thi - Đáp ánDu họcGiáo dục đào tạo, Phổ biến kiến thứcSinh viênHọc sinh


   Đề thi - Đáp án
 
  Thêm một số tư liệu Văn THPT của THN


 Chủ đề mới  Them cuoc Binh chon moi Trưng cầu mới
Trả lời Trả lời
 Gửi cho bạn của bạn  In ấn

    1700 người đang xem chủ đề này, trong đó có 1 thành viên
  • zinanguyen63 ,

    <<Chủ đề trước...  Chủ đề tiếp theo>>



  •   1 | 2 | 3 | 4 |
        |  Trước  |  Sau  |   Cuối >>
    Tác giả Chủ đề này đã có 7522 lượt đọc và 32 bài trả lời  
      
    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
            Than phiền

    Các bạn thân mến!
    Trên diễn đàn này, tôi đã được tiếp xúc với một lượng thông tin vô cùng phong phú, mong rằng nếu có thời gian tôi sẽ post lên cho các bạn một số bài giảng văn cũng như bình thơ để các bạn học môn Văn tốt hơn. Cũng mong có nhiều người tâm huyết cùng tham gia diễn đàn, nhất là các thầy giáo dạy Văn. Bài đầu tiên là một bài bình thơ Hàn Mặc Tử - nhà thơ đã gắn tâm hồn với Qui Nhơn. Qua đó, cũng giúp các bạn yêu thích văn chương làm quen với một kiểu bình thơ, có thể áp dụng vào một số kiểu bài bình giảng.
    --- Mùa Xuân chín của Hàn Mặc Tử
    Bình thơ : Mùa Xuân chín (Hàn Mặc Tử )
    Trong làn nắng ửng khói mơ tan
    Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
    Sột soạt gió trêu tà áo biếc
    Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

    Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
    Bao cô thôn nữ hát trên đồi
    Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
    Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

    Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
    Hổn hển như lời của nước mây
    Thầm thỉ với ai ngồi dưới trúc
    Nghe ra ý vị và thơ ngây.

    Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
    Lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng
    Chị ấy năm nay còn gánh thóc
    Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
    1939
    Mùa xuân – qua nét phóng bút tài hoa của Hàn Mặc Tử, bỗng trở nên duyên dáng và có sức cuốn hút lạ thường. Xuân như thiếu nữ mơn mởn đào tơ, tràn căng sức sống, song xuân không hiện lên rõ nét mà cứ huyền ảo, như thực như hư. Không thể chỉ đọc từng câu từng chữ mà cảm được bài thơ. Cần cảm thụ quyện hòa từng luồng cảm giác.
    Mở đầu bài thơ là một khung cảnh được từ từ hé mở. Không gian tươi mát, rõ ràng. Thi sĩ rắc màu lên từng cảnh sắc. Lấm tấm vàng của mái tranh, biếc xanh giàn thiên lý. Chợt nghe như sự sống bừng dậy, bỡn cợt, gợi tình. Câu thơ chuyển mạch rất nhanh với cách ngắt nhịp tài tình “bóng xuân sang”. Cảnh mới thực bỗng thoắt trở nên mơ hồ. Bóng xuân lướt nhanh ẩn hiện làm ta ngỡ ngàng. Mùa xuân, qua con mắt thi nhân, phập phồng sức sống. Màu xanh tươi lan tỏa ngút mắt. Vút lên cao là tiếng hát tuổi xuân xanh. Màu sắc, âm thanh trộn đều tạo một không gian động, hồn nhiên thơ mộng. Tưởng chừng ta gặp hồn thơ Nguyễn Du qua vẻ đẹp: “Cỏ non xanh tận chân trời”, song ta nhận ra Hàn Mặc Tử bởi những cảm giác quẫy mạnh trong từng câu thơ, ta cảm được cái rùng mình của mùa xuân qua làn “sóng cỏ”. Thi sĩ lặng mình trước mùa xuân, chợt bâng khuâng nhủ lòng mình :
    Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
    Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi
    Câu thơ lắng nỗi buồn nhẹ nhàng, man mác cáI buồn cố hữu của những nhà thơ thời đó. Cái tiếc rẻ cho duyên con gái một đi không trở lại. Không giục giã, hối hả gấp gáp như Xuân Diệu “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ – Em, em ơi tình non sắp già rồi!” nhưng với hai câu thơ này Hàn Mặc Tử đã mang tới cho người đọc những đợt sóng ngầm tình cảm gấp gáp, hối hả mà duyên dáng lạ thường.
    Những âm thanh trong bài thơ chuyển động, cọ xát nóng bỏng : “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ”. Các cung bậc mùa xuân lên bổng, xuống trầm tinh nghịch, khát khao, dịu nhẹ. Những gam cảm giác Hàn Mặc Tử đưa vào thơ rất mới lạ mà lại gần gũi, quen thuộc. Thấp thoáng đâu đây khuôn “mặt chữ điền” như thơ Đường; mà lại có vẻ hồn nhiên, rụt rè của cô gái tơ mới lần đầu hò hẹn. Âm thanh, cảm giác được đẩy lên cao vút, nao nức, bâng khuâng.
    Tận cùng của cảm giác là một nỗi nhớ nao lòng. Xuân chín căng, mời mọc làm nguời đi xa chạnh niềm tha hương. Hình ảnh trong nỗi nhớ sáng rực, thân thiết:
    Chị ấy năm nay còn gánh thóc
    Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang?
    Nỗi nhớ như mùa xuân, cũng chín đỏ. Như tình người, tình quê ấm áp, đậm đà. Câu hỏi tưởng bâng quơ, sực nhớ kia chính là nỗi niềm mến thương từ lâu ủ kín, chợt mùa xuân làm thức dậy trìu mến, thiết tha.
    Bài thơ của Hàn Mặc Tử đầy nhựa sống như tâm hồn của nhà thơ luôn khát khao giao cảm với đời. Với mùa xuân, Hàn Mặc Tử yêu say đắm, điên cuồng : “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống” – lời của thi nhân đã được đem vào trong bao áng thơ diễm tuyệt, kết tinh hương sắc làm nên một “mùa xuân chín”.

    Trần Hà Nam


    Gửi lúc 00:03, 19/06/03

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu
    Vấn đề cần triển khai :
    1. Tấm lòng tri kỷ của nhà thơ lớn thời đại cách mạng Tố Hữu với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.
    2. Cách đánh giá của thời đại mới – Ý nghĩa thời sự của giá trị nhân đạo Nguyễn Du
    3. Phong cách nghệ thuật Tố Hữu : dân tộc – thời đại
    DÀN BÀI SƠ LƯỢC :
    I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
    1. Tháng 1 – 1965, cả dân tộc long trọng tổ chức lễ kỷ niệm Nguyễn Du – danh nhân văn hoá Việt Nam và thế giới , trong không khí sôi sục căng thẳng của cả nước chống Mỹ.
    2. Cuộc đối đầu không cân sức giữa một dân tộc vừa thoát bóng tối nô lệ và tên sen đầm quốc tế Mỹ đặt dân tộc ta trước vấn đề sống còn: sức mạnh nào giúp dân tộc ta vược qua thử thách, chiến thắng sức mạnh tàn bạo của kẻ thù?
    3. Trong không khí đó, tại tuyến lửa ác liệt khu IV cũ, nhà thơ lớn – con chim đầu đàn của thi ca cách mạng Việt Nam – Tố Hữu đã viết Kính gửi cụ Nguyễn Du , như một tâm tình tri kỷ với người xưa, để khơi gợi những giá trị tinh hoa của Nguyễn Du đem vào không khí Ra trận một sắc thái mới, những con người hậu thế sẽ giải đáp cho băn khoăn của “cha ông thời xưa cũ” và tiếp thu tình thương vĩ đại của nhà thơ bước vào trận chiến mới.
    II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
    A. Tiếng thơ của Tố Hữu cũng là tinh thần của thời đại mới tiếp nhận di sản quí báu của cha ông:
    1. Tiếng thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu bao giờ cũng cùng chung nhịp rung cảm với dân tộc và thời đại. Đến Ra trận, thơ ông muốn là tiếng kèn xung trận, bám sát tinh thần thời đại, phát ngôn tư tưởng của Đảng.
    2. Ý thức công dân hoà quyện tình cảm truyền thống đã tạo nên mạch ân tình đằm thắm của bài thơ – trong không khí vừa cổ điển vừa hiện đại, với cấu tứ cân xứng: hai dòng mở đầu và hai dòng kết thúc như là nối mạch truyền thống – hiện đại, năm khổ ở giữa, mỗi khổ gồm ba cặp lục bát cân xứng, đã cô đúc thái độ, cách đánh giá và tình cảm của thời đại mới về Nguyễn Du. Cảm xúc vì vậy hoà quyện được tính chính luận và trữ tình.
    3. Đặc biệt hai câu đầu bao quát được tâm trạng tác giả “Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều” gắn không gian “nửa đêm” gợi nhiều hoài niệm ngay trên “huyện Nghi Xuân quê hương của tác giả Truyện Kiều. Âm hưởng lắng đọng, trang nghiêm, thành kính.
    B. Ý nghĩa của các khổ thơ:
    1. Suy nghĩ về Nguyễn Du thông qua không khí truyện Kiều:
    a. Kiều chính là tâm sự của Nguyễn Du với thời đại của ông. Số phận Kiều bộc lộ đầy đủ cái tôi trữ tình Nguyễn Du. (6 câu)
    b. Tấm lòng “tê tái thương yêu” – tinh thần nhân đạo “rất đẹp và rất sâu” dành cho con người, trong hoàn cảnh xã hội biến động. Bản thân Nguyễn Du cũng như Kiều – bất lực, chìm nổi. (2câu)
    c. Sự bế tắc của Nguyễn Du – thời đại của ông tràn ngập bóng tối của “trời đêm” – bi kịch của ước mơ khát vọng không thành. Kiều – tài, sắc, hiếu, tình – ngổn ngang trăm mối không có hạnh phúc, bị vùi dập ê chề (2câu)
    d. Nhắc lại đoạn đời bi thảm bậc nhất của Thuý Kiều sau cái chết của Từ Hải – sự ngộ nhận phải trả giá đau đớn. Ngọn cờ đào của Từ Hải (Ba quân trông ngọn cờ đào – Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Truy). Cảm xúc trong mối liên hệ với thời đại của Nguyễn Du còn gợi về hình ảnh của ngọn cờ đào phong trào nông dân Tây Sơn(Mà nay áo vải cờ đào)  Khát vọng giải phóng con người mâu thuẫn với tư tưởng trung quân, làm nên bi kịch đỉnh điểm của Thuý Kiều. Nguyễn Du yêu thương nhân dân nhưng không hiểu và không tán đồng khởi nghĩa nông dân của Nguyễn Huệ, từ đó tạo thành tâm trạng “ngẩn ngơ” và bế tắc “đành như thân gái”. Đó còn là cảm xúc đồng điệu giữa nhân vật với chủ thể – “phong vận kỳ oan ngã tự cư”.
    2. Mối cảm thương nỗi niềm tác giả “Truyện Kiều”:
    a. Từ nhận thức sâu sắc tạo nên cuộc gặp gỡ tri âm của hai tấm lòng giàu thương yêu, ân tình với cuộc đời: cảm thông, xót xa cho những bế tắc cuộc đời cũ.
    b. Lời tâm tình của Tố Hữu với Tố Như, cảm nhận tấm lòng của Nguyễn Du với cuộc đời. (Trước kia, trong Bài ca Xuân 61, Tố Hữu từng viết: Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều). “Truyện Kiều” chính là “tơ lòng” của Nguyễn Du vấn vương mãi với cuộc đời hôm nay.
    c. Người đời sau cảm thương, say mê Truyện Kiều cùng các tác phẩm của Nguyễn Du và trân trọng ông vì “nhân tình” – tình người – giá trị cơ bản trong các tác phẩm Nguyễn Du. Sự đồng cảm sâu sắc giúp Tố Hữu hiểu đúng tinh thần “máu chảy ở đầu ngọn bút” cũng như khát khao tìm gặp tri âm của Nguyễn Du (Nguyễn Du viết trong Độc Tiểu Thanh ký : “khấp Tố Như” – còn Tố Hữu lại viết “khóc cùng Tố Như” – câu hỏi gợi lại “nỗi niềm xưa” thực chất là tấm lòng tri âm của Tố Hữu - hậu thế “khóc cùng Tố Như”), như thấu suốt tình người cao cả của Nguyễn Du.
    d. Câu thơ “tập Kiều” chính là nén tâm hương thành kính của Tố Hữu, người của “mai sau” mà Nguyễn Du hằng mong đợi, tạo âm hưởng đồng điệu của hai trái tim, hai thời đại. Là câu trả lời cho băn khoăn của Nguyễn Du: những con người của thời đại chống Mỹ, hơn ai hết, cũng là những ngừơi biết cảm thông, đau đớn trước những khổ đau bất hạnh của cuộc đời cũ.
    3. Cảm nhận tiếng nói tri âm của người xưa – tiếp nhận di sản tinh thần vĩ đại của Nguyễn Du:
    a. Toàn bộ khổ thơ là tiếng nói của thời đại mới hôm nay tiếp nhận rất trân trọng tấm lòng nhân hậu của Nguyễn Du để lại qua câu chuyện về cuộc đời chìm nổi của Thuý Kiều và thân phận những người phụ nữ bất hạnh trong cuộc đời cũ.
    b. “Tiếng đàn” – tài năng, tấm lòng của Kiều – bị huỷ hoại đau xót trong cuộc đời cũ, cũng như cái tâm của Nguyễn Du đã bao lần bị ngộ nhận, phải đến hôm nay mới thật sự được cảm nhận đánh giá đầy đủ. Câu thơ còn là lời khẳng định cho tinh thần nhân bản của thời đại mới : trả cái đẹp về đúng vị trí trang trọng, nối lại dây đàn để “nước non luống những lắng tai Chung Kỳ”.
    c. Đoạn thơ gợi lại cuộc đại đoàn viên của Kiều cùng Kim Trọng và gia đình. Mượn không khí ấy của Truyện Kiều để Tố Hữu đón tấm lòng thơ Nguyễn Du về với “tình đời”. Đó cũng là cách khẳng định và tôn vinh giá trị nhân bản vĩ đại của tác phẩm Nguyễn Du để lại cho dân tộc. Không chỉ là mối cảm thương cho một số phận mà mỗi câu chữ Nguyễn Du là “tấm lòng thấu suốt nghìn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân). Giá trị ấy càng sáng rõ trong thời đại mới.
    d. Từ “câu thơ hay nhất của Truyện Kiều” như Tố Hữu có lần đánh giá trước đó (5/61) “Đau đớn thay phận đàn bà” (cũng là câu thơ trong Văn Chiêu hồn), một lần nữa nhà thơ lại khẳng định cho ý nghĩa điển hình của hình tượng Thuý Kiều. Không chỉ là một Thuý Kiều mà còn là thân phận chung của người phụ nữ. Vấn đề Nguyễn Du đặt ra hơn một thế kỷ còn đủ sức lay động mãnh liệt của Tố Hữu – trong tiếng than ngậm ngùi cho những nạn nhânmột lần nữa nhà thơ lại khẳng định cho ý nghĩa điển hình của hình tượng Thuý Kiều. Không chỉ là một Thuý Kiều mà còn là thân phận chung của người phụ nữ. Vấn đề Nguyễn Du đặt ra hơn một thế kỷ còn đủ sức lay động mãnh liệt của Tố Hữu – trong tiếng than ngậm ngùi cho những nạn nhân đau khổ nhất của chế độ phong kiến. Trong mạch liên tưởng nối kết với khổ thơ sau, dòng suy tưởng của Tố Hữu đã gặp gỡ với cảm nhận của Chế Lan Viên về ý nghĩa điển hình của hình tượng Thuý Kiều:
    Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
    Sắc tài sao mà lại lắm truân chuyên (Đọc Kiều)
    4. Tính thời sự – hiện thực của tác phẩm Nguyễn Du :
    Xuất phát từ nhận thức và tình cảm sâu sắc với Nguyễn Du, liên hệ giữa quá khứ với thực tại, nỗi đau trong cuộc đời cũ với những đau thương hiện tại trên nửa mình đất nước, Tố Hữu đã nâng tầm thái độ của Nguyễn Du lên thành thái độ của thời đại chống Mỹ với kẻ thù cướp nước và bán nước – thế lực bạo tàn và bọn ác thú tiếp tục gieo đau thương lên dân tộc, con người Việt Nam. Từ đó, ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng thể hiện giá trị nhân văn cao cả: diệt trừ cái ác, bảo vệ giá trị làm người.
    5. Tôn vinh đại thi hào dân tộc:
    a. Khổ thơ cô đọng khái quát tư tưởng. Tình cảm của dân tộc với nhà thơ lớn Nguyễn Du – thể hiện tinh thần kế thừa phát huy giá trị tinh hoa truyền thống của thời đại mới, qua hàng loạt khái niệm gắn giá trị to lớn, cao cả, trường tồn, thiêng liêng.
    b. Tiếng thơ – nghệ thuật tác phẩm của Nguyễn Du, được tôn vinh ở mức độ cảm hoá được đất trời, hoà hợp các yếu tố “thiên – địa – nhân”. Tầm vóc lớn lao ấy cũng nhằm khắc hoạ đậm nét tâm hồn của một Con Người đã sống hết mình trong bao nhân vật của ông – để cất lên tiếng kêu thương, lời nguyền rủa, một giấc mơ của những cuộc đời bế tắc trong cuộc đời bế tắc trong màn đêm dày đặc của xã hội phong kiến. Để qua tiếng thơ ấy, người đọc hôm nay nhận ra nỗi đau và khát vọng của non nước nghìn thu. Để qua thơ Nguyễn Du, thế hệ hiện tại nhận được thông điệp từ quá khứ khổ đau của cha ông, đồng thời nhận lãnh trách nhiệm thực hiện lời nhắn nhủ thiêng liêng bảo vệ quyền sống, quyền làm người cao cả.
    c. Với tư cách ấy, Nguyễn Du xứng đáng với sự tôn vinh “đại thi hào dân tộc”. Cái nhìn hướng đến “nghìn năm sau” như lời đoan chắc, vừa là nhận thức và tình cảm gắn bó với truyền thống nhân bản cao quí của tiếng thơ – tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày đã ăn sâu vào hồn dân tộc. Đó là sự tôn vinh xứng đáng cho giá trị lớn lao nhất của Nguyễn Du để lại cho hậu thế: tinh thần nhân đạo cao cả trong mỗi tâm hồn Việt Nam.
    d. Lời gọi trìu mến thiết tha của Tố Hữu dành cho Nguyễn Du cũng chính là của Đảng, của dân tộc thể hiện sự biết ơn sâu sắc, khẳng định sự bất tử của tác giả Truyện Kiều. Đó cũng là lời đáp cho “tấm lòng thơ” đầy trăn trở với “tình đời” ngày xưa. Đó là lời hứa, là quyết tâm sắt đá của dân tộc trong những ngày chống Mỹ ác liệt, tấu lên “khúc vui” tái hợp, hoà âm cùng khát vọng, giấc mơ thuở trước của Nguyễn Du. Câu thơ là niềm tin, khẳng định cho sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
    C. Phong cách nghệ thuật Tố Hữu:
    1. Bài thơ kết tinh vẻ đẹp nghệ thuật và tư tưởng Tố Hữu trong giai đoạn “ra trận”: mạch thơ cổ điển – hiện đại trong cấu tứ mở – kết hài hoávơi âm hưởng lục bát lắng sâu cùng không khí Truyện Kiều đã tạo thành cảm xúc trữ tình chính trị đằm thắm đầy ân tình.
    2. Sức sống của tác phẩm chính là nhờ hoà âm nhịp nhàng của hồn thơ đậm đà tính dân tộc trong câu chữ chân chất của thể lục bát, lối “tập Kiều” điêu luyện tinh tế, cách cảm nhận quen thuộc của nhân dân với Truyện Kiều và liên tưởng, nhận thức sâu sắc gắn với các nhiệm vụ cách mạng, tư tưởng của Đảng. Bài thơ của Tố Hữu chính là điểm gặp gỡ của hôm nay với ngày xưa, dân tộc và thời đại, trữ tình và chính luận, Thơ và Đời, tạo nên ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Từ truyền thống soi sáng cho hiện tại bằng cảm xúc chân thành tri âm, tiếng thơ “đồng tình, đồng ý, tiếng nói của đồng chí” của Tố Hữu – nhà thơ lớn cách mạng lại làm đẹp thêm và giúp người đọc thấy hết tầm vóc vĩ đại của đại thi hào dân tộc.
    III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
    Lời hứa với người xưa đã trọn. Hai lần quá khứ đau thương đã khép lại: đau thương của hoàng hôn thế kỷ và đau thương của thời mưa bom bão đạn chống Mỹ. Đọc tác phẩm, ta càng tự hào trân trọng cho truyền thống nhân văn , vẻ đẹp tâm hồn, sức mạnh tình thương đã làm nên trang sử đau thương, bất khuất ,anh dũng của dân tộc. Thế kỷ tương lai mở cánh cửa lại càng cần những tấm lòng tri âm với quá khứ, để có thể cất lên bản đại hợp xướng đón hạnh phúc về với mỗi con người:
    Hỡi người xưa của ta nay
    Khúc vui xin lại so dây cùng người


    Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tinh rieng phong cach mien Trung          

    Được tranhanam sửa chữa / chuyển vào 13:33 ngày 19/06/2003

    Gửi lúc 13:25, 19/06/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    DÀN Ý BÌNH GIẢNG ĐOẠN THƠ :


    Ta về mình có nhớ ta


    Ta về ta nhớ những hoa cùng người


    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi


    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng


    Ngày Xuân mơ nở trắng rừng


    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang


    Ve kêu rừng phách đổ vàng


    Nhớ cô em gái hái măng một mình


    Rừng thu trăng rọi hoà bình


    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung


    (Việt Bắc – Tố Hữu)


     


    DÀN Ý:


    I. CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ :


    Cách A:1. Văn chương kết tinh vẻ đẹp của thời đại. Âm vang của lịch sử dường như đọng lại đẹp nhất, rực rỡ nhất trên những trang thơ. Mỗi câu chữ, hình ảnh thơ ngưng tụ hồn sông núi, ghi nhận ấn tượng sâu sắc cảm động nhất của một đời người. Hạnh phúc nhất của người cầm bút có lẽ là lúc tạo được dấu ấn nghệ thuật không phai mờ trong tâm trí người đọc mọi thế hệ.


                2. Việt Bắc  của Tố Hữu là một trường ca tuyệt đẹp về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp. Bài thơ đi vào lòng người bằng giọng điệu ân tình chung thuỷ như ca dao, khắc hoạ sâu sắc nỗi niềm của những người con rời “thủ đô kháng chiến”, thâm tâm đầy ắp kỷ niệm nhớ thương.


                3. Trong tâm trạng kẻ ở - người đi, hình bóng của núi rừng – con người Việt Bắc vẹn nguyên cùng ký ức, với bao hình ảnh đơn sơ mà cảm động. Để hôm nay, những câu thơ còn rung động lòng người với những sắc màu, âm thanh tươi rói hơi thở của núi rừng chiến khu, hơi ấm của tình người lan toả : “Ta về ... ân tình thuỷ chung”.


    Cách B: 1. Là người, ai cũng có một miền đời để nhớ để thương. Có những mảnh đất tuy không phải nơi chôn nhau cắt rốn nhưng vẫn không bao giờ phai mờ trong tâm khảm. Bởi đó là máu thịt, là nơi ghi lại kỷ niệm đẹ p nhất của một đời người. Như Chế Lan Viên đã từng triết lý : “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”


                2. Việt Bắc – quê hương của kháng chiến, cách mạng trong những ngày đầu tiên của nền dân chủ cộng hoà đã trở thành biểu tượng của tấm lòng gắn bó thuỷ chung với cách mạng, dân tộc. Nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại mối tình sắt son đậm đà “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” trong bài thơ Việt Bắc , bằng tất cả cảm xúc nồng nàn của một hồn thơ đằm thắm thuỷ chung.


                3. Qua bao năm tháng, biến động của lịch sử, tiếng nói thiết tha ấy vẫn rung cảm lòng người, Việt Bắc của ngày xưa vẫn nguyên vẹn trong lòng người hôm nay: “Ta về ... ân tình thuỷ chung”. Tiếng lòng ân tình thuỷ chung ngày ấy phải chăng đã thấm sâu vào mạch ân tình chung thuỷ của thi ca dân tộc, cho nên khoảng cách thời gian không làm nhạt nhoà ấn tượng về một vùng rừng núi chiến khu xưa hùng vĩ nên thơ?


    II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :


    A. Cảm nhận chung :


                1. Điều làm nên sức sống diệu kỳ của bài thơ Việt Bắc nói chung và đoạn thơ nói riêng là giọng điệu thơ ngọt ngào, dân dã đậm sắc màu ca dao. Mạch tình cảm như suối ngầm ẩn tàng trong tâm hồn người Việt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản của phong cách thơ Tố hữu – luôn đậm đà tính dân tộc.


                2. Tâm tình lại gắn với hình ảnh quê hương – với những nét gợi thương gợi nhớ - là mạch tâm linh chảy suốt chiều dài lịch sử, chạm vào sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam “Anh đi anh nhớ quê nhà...”


                3. Cảm hứng chính trị xuyên suốt một đời thơ Tố Hữu. Với tâm tình, lẽ sống của nhà thơ, Việt Bắc là kết tinh của tình cảm riêng – chung. Hoà điệu tự nhiên của hai luồng tình cảm : dân tộc và cách mạng. tiếng nói của nhân vật trữ tình nhập vai  cũng chính là những suy ngẫm, tình cảm của nhà thơ. Thật khó tách bạch chủ thể và nhân vật. Ở đó là một cái tôi gắn với phẩm chất và tình cảm dân tộc, tiếng nói riêng tư “mình – ta” đã nói hộ tấm lòng của nhân dân và những người con cách mạng. Chất tự sự - trữ tình chính trị như những lời thầm thỉ tâm sự cùng mọi người, thuyết phục lòng người.

    [size=4][red] Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tha rieng phong cach mien Trung

    Gửi lúc 11:44, 21/06/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    B. Phân tích chi tiết :


                1. Nỗi nhớ :


                a. Là cảm xúc chủ đạo của toàn bộ bài thơ, gắn với “ta – mình”, “mình – ta”, là cung bậc thiết tha của tình cảm, là miền ký ức không phai mờ của người ra đi.


                b. Nỗi nhớ ở đây mượn nguyên màu sắc ca dao, là sự nối tiếp, là khía cạnh tinh vi trong quan hệ khắng khít: hoa – người. Quê hương hiện hình trong vẻ đẹp cụ thể: vẻ đẹp tinh tuý của thiên nhiên (hoa) hoà hợp với vẻ đẹp và sức sống của con người.


                c. Mỗi một hình ảnh “hoa cùng nguời” như đem lại ấn tượng riêng biệt về nét đẹp núi rừng Việt Bắc. Sự nối tiếp, đan xen sắc màu làm nên mạch cảm xúc của đoạn thơ, nỗi nhớ qua từng câu càng đậm đà và mãnh liệt hơn. Trên cơ sở đó, nhà thơ hướng toàn bộ tâm tư về con người – nhân dân với những phẩm chất bình thường  mà vĩ đại.


                2. Bức vẽ quê hương :


                a. Tố Hữu đã khéo léo vận dụng thành công đặc trưng tái hiện không gian vô cực của thi ca – gói trọn bốn mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông trong những sắc màu đẹp nhất, hài hoà nhất. Bước luân chuyển của thời gian được tác giả chọn ở những thời điểm nên thơ, tạo ấn tượng không phai mờ trong ký ức. Nhớ cảnh để nhớ người.


                b. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi


                Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng


                Nét son của bức tranh núi rừng ở đây là màu đỏ tươi của hoa chuối. Chấm phá của tranh thuỷ mặc điểm một sắc đỏ trong không gian xanh bao la, không gian mang sức sống mãnh liệt. Ở đấy là cách nhìn của thi nhân Á Đông, người đọc có thể nhớ đến một cảm xúc quen thuộc trong thơ Nguyễn Trãi :


                            Hoè lục đùn đùn tán rợp trương


                            Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ... (Bảo kính cảnh giới 43)


                Mùa đông trong câu thơ Tố Hữu cũng lan toả hơi ấm của mùa hè, không hề có cảm giác lạnh lẽo, bởi sắc đỏ hoa chuối cũng như phun trào từ giữa màu xanh của rừng.


                Bên cạnh nét đẹp của hoa là nét đẹp của người thật khoẻ khoắn “Nắng ánh dao gài thắt lưng” là hình ảnh người dân miền sơn cước. Cách hoán dụ không phải tình cờ ngẫu nhiên mà chọn con dao đi rừng – vật bất ly thân của người miền núi – nét đặc trưng của cuộc sống Việt Bắc. Con người nổi bật trong không gian đèo cao, càng nổi bật trong ánh nắng , thành một điểm sáng giữa khung cảnh mùa đông, mang trong mình nét hiên ngang hùng vĩ kiêu hãnh của núi rừng.


                c. Ngày xuân mơ nở trắng rừng


                Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang


                Không gian mùa xuân bừng sáng trong sắc hoa mơ. Sức sống mùa xuân lan toả khắp núi rừng Việt Bắc. Giữa nền trắng hoa mơ, nổi bật hình ảnh “người đan nón”. Nỗi nhớ ở đây cụ thể đến từng chi tiết “chuốt từng sợi giang”. Người Việt Bắc hiện lên ở nét đẹp cần mẫn, chịu thương chịu khó. Trong cách tả không có một âm vang nào của núi rừng, nhưng vẻ đẹp của mùa xuân vẫn sinh động nhờ hoạt động của con người. Sợi nhớ, sợi thương đan dày trong tâm tưởng, con người đẹp tự nhiên trong những công việc tỉ mẩn hàng ngày.


                d. Ve kêu rừng phách đổ vàng


                Nhớ cô em gái hái măng một mình


                Không gian nỗi nhớ hình như rõ nét nhất, đậm đà nhất trong bức tranh mùa hạ. Và cũng đọng lại hình ảnh ngọt ngào thân thương nhất của “cô em gái hái măng”. Câu thơ tả cảnh giàu sức biểu cảm, tiếng ve ran gọi màu vàng tràn ngập không gian. Không gian lung linh hơn khi sắc vàng đổ xuống. Ấn tượng màu vàng đẹp như bức vẽ tả thực vừa làm xao xuyến lòng người trong tiếng ve dóng dả gọi hè, như gọi cả màu vàng đất trời về phủ kín cánh rừng.


                Nổi bật giữa khung cảnh là hình ảnh “cô em gái”. Cách gọi biểu lộ niềm thân thương trìu mến của con người. Câu thơ gợi nhớ vẻ đẹp nên thơ của một “cô hái mơ” trong thơ Nguyễn Bính (Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ). Nhưng ở đây cô gái Việt Bắc mang vẻ đẹp khoẻ khoắn mộc mạc hơn. Một mình nhưng không tạo cảm giác cô đơn hiu quạnh, vì cả không gian nhuộm rực ánh vàng.


                đ. Rừng thu trăng dọi hoà bình


                Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung


                Không gian chuyển về đêm. Như hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng Việt Bắc. Đêm thu và ánh trăng như lan toả vào màu xanh của núi rừng. Vẻ đẹp của khu rừng dưới ánh trăng gợi lên vẻ huyền ảo. Khung cảnh gọi hồn thơ.


                Nỗi nhớ cũng mênh mang như ánh trăng, thành “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Nhớ không cụ thể một đối tượng nào. Như ca dao :


                Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ


                Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai


                Tình người bâng khuâng trong câu thơ gợi cảm xúc đồng điệu giữa kẻ ở - người đi. Đọng lại trong nỗi nhớ là “ân tình thuỷ chung” dào dạt.


    C. Tóm ý :


    1.      Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh của núi rừng Việt Bắc. Mỗi mùa mang một sắc màu riêng và bốn mùa hoà chung màu sắc đa dạng, làm nên vẻ hấp dẫn cho bức tranh phong cảnh trữ tình.


    2.      Thời gian diễn tả tuần tự, nhưng thời gian không làm phai nỗi nhớ. Mỗi mùa đi qua có một khoảnh khắc đáng nhớ - đ1o là khi trái tim nhà thơ bắt nhịp cùng không gian – cảnh vật.


    3.      Đó là tình yêu đích thực, rung động chân thành của trái tim nhà thơ. Cũng là tấm lòng của những người con kháng chiến sâu năng với thủ đô kháng chiến.

    [size=4][red] Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tha rieng phong cach mien Trung

    Gửi lúc 11:45, 21/06/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    LUẬN ĐỀ : HIỆN THỰC –- TÌNH CẢM –- KHÁT VỌNG TRONG BÀI THƠ “TIẾNG HÁT CON TÀU”  CỦA CHẾ LAN VIÊN. (Người soạn : TRẦN HÀ NAM – Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn – Bình Định)


     


    Vấn đề chính cần làm rõ :


    -         Quá trình suy ngẫm bản thân của nhà thơ trước hiện thực xây dựng đất nước


    -         Hành trình “từ chân trời một người đến chân trời tất cả”


    -         Vẻ đẹp của Tây Bắc trong những ngày kháng chiến chống Pháp : lòng biết ơn nhân dân đã chuyển hóa từ cảm xúc đến nhận thức lý trí nhuần nhuyễn


    -         Sự chuyển đổi phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên trước và sau cách mạng


     


    DÀN Ý  CHI TIẾT :


    I. ĐVĐ : 


    1.                                             “Tây Bắc ư ? Có riêng gì Tây Bắc...”


                Quả đúng như lời đề từ cho bài thơ “Tiếng hát con tàu”, Chế Lan Viên đã gửi gắm những suy nghĩ, xúc cảm phong phú vào một đề tài mang tính thời sự của những năm 1958 –1960 : phong trào khai hoang xây dựng kinh tế ở vùng rừng núi Tây Bắc. Vượt qua lối minh họa thông thuờng cho đường lối chủ trương của Đảng, nhà thơ đã tự thể hiện tâm sự của một lớp ngươì cầm bút về đất nước và nhân dân, với tình cảm chân thành và khát vọng mãnh liệt của cả một dân tộc trong thời đại mới.


    2. Bằng phong cách nghệ thuật trí tuệ sắc sảo, tài hoa trong ngôn ngữ và hình ảnh thơ, cùng tấm lòng, ý thức của người nghệ sĩ gắn bó với cuộc sống, bài thơ vẫn nguyên vẹn sức sống đến hôm nay.


    II. GQVĐ :


    A.     Con đường đi đến “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên :


    1. Có thể xem bốn câu thơ đề từ của tác phẩm như là sự gói ghém trọn vẹn nỗi niềm của nhà thơ Chế Lan Viên, là sự trải nghiệm của một người có hơn hai mươi năm cầm bút để đi đến một chân lý giản đơn:


                                              Tây Bắc ư ? Có riêng gì Tây Bắc


                                              Khi lòng ta đã hóa những con tàu


                                              Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát


                                              Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu


    2. Một thần đồng thơ sáng chói vào năm 17 tuổi, cảm nhận cuộc sống qua lăng kính của một cái tôi “tất cả như vô nghĩa, tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”, chìm đắm trong quá khứ của một dân tộc “điêu tàn”, có lẽ để “khi lòng ta đã hóa những con tàu”, Chế Lan Viên đã phải trải qua bao lần tự soi thấu vào lòng mình để chọn một hướng đi. Câu thơ nói lên một nhận thức mới, một sự lột xác toàn diện, gắn với cảm giác thanh lọc và bay bổng của tâm hồn. “Con tàu”, trong cách nói của thi sĩ hẳn khác “con tàu say” của các thi sĩ lãng mạn nhiều lắm, bởi hành trình lần này là “từ chân trời một người đến chân trời tất cả”, là tình cảm “khởi phát tự lòng người” đi đến với cuộc đời.


    3. Ta chợt nhận ra ý nghĩa nhan đề của bài thơ : “tiếng hát con tàu”, “khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”. Thời điểm có ý nghĩa thật lớn lao! Gắn với không khí hào hứng sôi nổi của cả một đất nước hồi sinh, tâm hồn nhà thơ được chắp cánh cùng “tiếng hát” hòa điệu vào bản đại hợp xướng của dân tộc, là men say khát vọng của thời đại mới – tràn trề “Ánh sáng” và tươi rói “Phù sa”. Hiện thực – khát vọng, cái riêng và cái chung hòa quyện, làm nên ngân vang “ tiếng hát của tình yêu nhân dân” (Nguyễn Xuân Nam).


    B. Phân tích chi tiết :


                1. Tiếng hát vang lên như một lời giục giã, mời gọi lên đường : Hai khổ thơ mở đầu cũng chính là tâm sự của nhà thơ :


    Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng


    (...) Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia


                Một câu hỏi hay một lời tự vấn? “Anh” là ai? Trong một đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít, câu hỏi đã tạo ra một cuộc đối thoại trực tiếp : với bạn thơ và với chính mình. Hai vị thế khác nhau : một bên là những người đang được hút vào không gian động “lên Tây Bắc” với âm thanh “gió ngàn rú gọi” và một bên là anh – còn lưu luyến một “trời Hà Nội” bình yên. Hai không gian – hai thái cực được đặt vào tiếng “tàu gọi” thúc bách về thời gian, như đòi hỏi một chọn lựa dứt khoát. Hàng loạt hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng đã nối kết thành những suy ngẫm về ý nghĩa cuộc đời của mỗi con người. Làm gì đã có đường tàu lên Tây Bắc vào những năm 1958 – 1960? Chỉ có con tàu “đói những vầng trăng” – đến với khát vọng của muôn đời. Phải chăng suy tưởng của Chế Lan Viên đã gặp mạch cảm xúc ngày trước của Xuân Diệu: “trăng vú mộng đã muôn đời thi sĩ” trong hình ảnh “vầng trăng”. Thế nhưng con tàu thơ của Chế Lan Viên đâu phải chơi vơi trong vầng trăng lãng mạn trước kia, nó đang lao về phía trước, hứng gió ngàn mạnh mẽ của hiện thực, “lên Tây Bắc” là bay lên cùng ước mơ. Một cuộc ra đi vĩ đại để tìm thi hứng, cuộc sống đang mời gọi, “anh đi chăng?”, “anh có nghe?”, “sao chửa ra đi?”. Những câu hỏi dồn dập như xoáy sâu vào những trăn trở suy tư về thiên chức của người cầm bút trước hiện thực vĩ đại của dân tộc. Không ai khác, người đặt ra câu hỏi ấy chính là chàng trai mười bảy tuổi năm xưa đã từng coi “tất cả như vô nghĩa”, qua quá trình trải nghiệm đã nhận thức lại sự non nớt trong ám ảnh của một thời khổ đau. Hỏi để tự khẳng định dứt khoát với chính mình, dù phải trải qua bao trăn trở cũng phải xác định hướng đi rõ ràng. Thời “Điêu tàn”, Chế Lan Viên từng viết :


    Ta nằm ở giữa cân trời đất


    Khối ngọc chưa nghiêng một hướng nào


                Cái tôi lúc ấy sao mà ngạo nghễ! Còn giờ đây anh mới có thể nhận ra cái tầm thường thảm hại của nó khi đặt vào thế tương phản với “đất nước mênh mông”. Cả cái vũ trụ bí mật anh tưởng mình đã khám phá ra, giờ thu lại trong một vỏ ốc của một “lòng đóng khép”. Hiện thực cuộc sống vĩ đại đòi hỏi mỗi nhà thơ phải mở lòng đón nhận, để tự nhận ra khuôn mặt chính mình. Khi sống hết mình cùng cuộc đời chung, đó là lúc tâm hồn anh mới thật sự trở thành “khối ngọc”.


               

    [size=4][red] Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tha rieng phong cach mien Trung

    Gửi lúc 23:32, 22/06/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    2. Lên Tây Bắc cũng là về nguồn :


                Hình ảnh Tây Bắc hiện lên trong tâm trí nhà thơ song hành cùng kỷ niệm mười năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, mười năm nhà thơ đi tìm lại chính mình :


    Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc


    Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng


    Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất


    Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân


     


    Ôi kháng chiến, mưòi năm qua như ngọn lửa


    Nghìn năm sau còn đủ sức soi đưòng


    Con đã đi nhưng con cần vưọt nữa


    Cho con về gặp lại Me yêu thương


    “Mười năm” – với lịch sử chỉ là một cái chớp mắt, với đời người cũng chỉ như một giấc chiêm bao, nhưng đối với một lớp ngưòi như Chế Lan Viên thì đó là cả một quá trình lột xác đầy đau đớn mà thiêng liêng. Tây Bắc là một giá trị đưọc khẳng định đầy tự hào trong quá khứ : Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng, nơi một con người Chế Lan Viên mới đã được khai sinh. Mảnh đất ấy là ân tình, là “máu đỏ” thấm vào đất, để thấm vào huyết quản, để nhà thơ một lần nữa cảm nhận một cách đầy tự hào ba tiếng “tâm hồn ta”. Đó là tấm lòng của một con người hiểu được giá trị của những hy sinh mất mát., hiểu đưọc màu đỏ thiêng liêng đã nhuộm máu bao lớp ngưòi anh dũng. Đó còn là niềm sung sưóng của con người nhìn sắc “chín trái đầu xuân”, tự nhìn lại mình để biết ơn sâu sá8c hơn mảnh đất đã tạo độ chín trong nhận thức. Cũng là hình ảnh hiện thực rạt rào niềm vui


    Giọng thơ ấy không đơn thuần là tiếng nói lý trí mà chính là ân tình sâu nặng với kháng chiến. Những thán từ vang ra từ sâu thẳm lòng mình đã đưa nhà thơ sống lại với tất cả những ân tình kháng chiến, nói lên tiếng nói tâm tình của đứa con trong phút quay về. Từ thực tại, dòng suy tưởng nối kết “mười năm” quá khứ và “nghìn năm sau” trong ánh sáng bừng lên của “ngọn lửa” bất diệt. Dòng thơ là mạch cảm xúc tuôn chảy của dòng suối ngầm tình cả nguồn ân tình đằm thắm của dân tộc. Mỗi một cách xưng hô là sự biến chuyển của nhận thức và tâm trạng. Khi nhà thơ xưng “Con” và Tây Bắc trở thành “Mẹ yêu thương”, nhà thơ đã thật sự vượt qua ranh giới của cái tôi bé nhỏ để đến với Tổ quốc – nhân dân bằng một tình yêu giản dị chân thành.


    3. Tâm sự gắn cùng những hình ảnh kỷ niệm thân thương :


    a/ Đứa con đi xa trở về với Mẹ, biết bao là cảm động và ý nghĩa thiêng liêng trong giờ phút gặp lại :


    Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ


    Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa


    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa


    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa


    Sức sống mới của tâm hồn đưọc diễn tả qua những hình ảnh liên tưởng khái quát đã nói lên mối quan hệ mật thiết gắn bó của nhà thơ với nhân dân – những con người của một thời “hắt hiu lau xám , đậm đà lòng son”. Nhữnggian khổ của ngày hôm qua đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận, niềm vui sướng hồi sinh của tâm hồn. Tấm lòng biết ơn được thể hiện bằng những hình ảnh giàu sức biểu cảm, tình cảm ấy còn thiêng liêng hơn cả nỗi niềm của một “cố nhân”. Thời điểm “gặp lại” không phải là một thoáng tình cờ, mà là một cuộc gặp gỡ để những ân tình của nhân dân theo suốt một đời. Một cách nói giản đơn nhưng đó là kết quả của một quá trình thâm nhập để có thể cùng chung nhịp đập với dân tộc của cả một lớp người.


    b/ Cùng với niềm vui gặp lại là một nỗi nhớ mênh mông, những kỷ niệm một thời gian khổ ùa về, hiện hình cụ thể thành những “anh con”, “em con”, “mế” trong đại gia đình cách mạng. Hình ảnh ấy là những ân tình gắn bó tha thiết của nhà thơ với nhân dân, là chân lý của đời thuờng vô cùng giản đơn nhưng sâu sắc. Trong tâm trí nhà thơ, những con người của ngày hôm qua chính là hiện thân cụ thể của một khái niệm trừu tượng không dễ dàng hiểu nổi : Cách mạng. Cách mạng là sự chuyển giao giữa các thế hệ gắn với gian khổ, hy sinh và trách nhiệm. Là “chiếc áo nâu suốt một đời vá rách – Đêm cuối cùng anh gửi lại trao con”. Cách mạng là ân tình với đồng chí, đồng bào, là tình quân dân cá nưóc, là tình người trong kháng chiến. Mảnh đất và con ngưòi Tây Bắc sống cùng ký ức vẹn nguyên của nhà thơ để làm nên một nhận thức sâu sắc :


                                        Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ


                                        Nơi nào lòng lại chẳng yêu thương


    Khi ta ở chỉ là nơi đất ở


    Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn


                Tây Bắc xa xôi bỗng trở nên gần gũi, khi trái tim con người vang nhịp đập “yêu thương”. Đã từ rất lâu, lời tâm tình này của Chế Lan Viên đã thành câu nói cửa miệng biểu hiện tâm tình sâu đậm của mỗi con ngưòi. Đó chính là “tiếng ca từ lòng mình” mà nhà thơ đã chắt lọc ra từ những ngày kháng chiến. Tình cảm ấy vừa là tình cảm của ngưòi con cách mạng với quê hương kháng chiến, vừa là tâm huyết của con người hiểu trọn vẹn hai chữ “thủy chung” trong mạch nguồn dân tộc. Đó là sự khởi nguồn cho tình yêu bất tận :


                                                    Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét


                                                    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng


                                                    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc


    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương


                Lên Tây Bắc là trở về trong vòng tay của mẹ, trong tình yêu của em, trong sắc màu nhung nhờ và mùi hưong nếp mới. Để từ kỷ niệm tạo ra cảm giác mới mẻ, ắp tràn, phong phú của mọi giác quan, để cảm nhận đầy đủ hơn về Tây Bắc – Đất nước và nhân dân.


               

    [size=4][red] Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tha rieng phong cach mien Trung

    Gửi lúc 23:40, 22/06/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền


                4. Tiếng hát của khát vọng :


                Tình nghĩa của ngày hôm qua đã tạo nên sức sống của thời đại mới, khơi nguồn cho những khát vọng về tương lai. Bằng lối triết lý đầy trí tuệ, Chế Lan Viên đã chọn lọc những biểu tượng khái quát từ những hình ảnh quen thuộc hàng ngày trong cuộc đời hằng thấy :


                                        Mắt ta nhớ mặt người tai ta nhớ tiếng


                                        Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào


                                        Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến


                                        Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao...


                Cuộc sống mới hiện hình trong mùa thu hoạch tràn đầy cảm hứng thời đại. Thời gian, công sức, sự hy sinh của bao lớp ngưòi kết thành khối vàng mười rực sáng của niềm tin, tạo thành nhựa sống mạnh mẽ cho hồn thơ Chế Lan Viên. Nhà thơ bộc bạch :


    Tây Bắc ơi, Người là Mẹ của hồn thơ


                Tưởng chừng nhà thơ không làm thơ nữa mà chỉ là lời tâm sự của một con người say mùi hưong chân lý, tận hưởng gió mới của cuộc sống xây dựng. Khát vọng, tình yêu lớn và suy nghĩ về tương lai tốt đẹp đã làm nên cảm hứng lãng mạn bay bổng cùng dân tộc.


    C. Khái quát tóm ý :


                1. Khi từ thế giới của cái tôi đến với cuộc đời chung, nhà thơ đã tìm ra dòng cảm hứng bất tận cho thơ ca bắt nguồn từ chính cuộc sống khẩn trương của nhân dân đang chuyển mình. Bài thơ là kết tinh sáng tạo của một chặng đưòng thơ mới của Chế Lan Viên, vừa là tiếng nói dạt dào cảm xúc vừa gắn với một tài hoa trí tuệ, đạt đến độ nhuần nhuyễn giữa lý trí và tình cảm.


                2. Có thể nhận ra một bản lĩnh thơ của Chế Lan Viên khi ông không sa vào kể lể những sự kiện minh họa cho tư tưởng lớn của Đảng như các nhà thơ cùng thời. Vì vậy, bài thơ không phải là tiếng nói của một thời mà đã thấm nhuần chân lý của đời sống, có sức sống bền bỉ. Đó là kết quả của một chặng đưòng nhà thơ thâm nhập để phát hiện bản chất tốt đẹp của cuộc sống mới. Tiếng lòng một người đã tạo thành độ cộng hưởng cảm xúc lớn đến với muôn người, chuyển tải những tình cảm chính trị hòa nhập vào đời sống tình cảm của cá nhân, hòa nhập Riêng – Chung làm một. Nhà thơ đã nói lên đưọc tâm tình của cả một lớp người giác ngộ sâu sắc vai trò của cách mạng và nhân dân bằng tình yêu chân thành, tự nhiên.


    III. KTVĐ :


                Lịch sử đã sang trang, dân tộc ta đang tiếp tục hành trình vào thiên niên kỷ mới. Trong không khí đất nưóc thanh bình, đọc lại “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, ta như cảm nhận được âm vang của một thời đại dân tộc say mê cùng lý tưởng vẫn lan tỏa đến tận hôm nay. Tiếng thơ ấy không chỉ gợi lên những suy nghĩ về trách nhiệm của mỗi nguời gắn cùng dân tộc mà còn khơi dậy những ân tình với quá khứ. Bài thơ của Chế Lan Viên vẫn đi cùng năm tháng bằng suy ngẫm, tình cảm máu thịt gắn bó với nhân dân, đất nước, thời đại. Nhà thơ như đang nói cùng chúng ta :


                                                    Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát


                                                    Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu...

    [size=4][red] Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tha rieng phong cach mien Trung

    Gửi lúc 23:43, 22/06/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    DÀN BÀI PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐỘC TIỂU THANH KÝ – NGUYỄN DU


    (Trần Hà Nam – Giáo viên trường THPT chuyên Lê Quý Đôn Bình Định)


    Vấn đề cần làm rõ :


    1.     Sự đồng cảm, xót thương của Nguyễn Du với người con gái tài hoa mệnh bạc


    2.     Nghệ thuật thơ chữ Hán Đường luật thể hiện cô đúc tâm sự Nguyễn Du trước thời cuộc.


    3.     Tinh thần tiếp thu di sản tinh thần Nguyễn Du của xã hội mới


    DÀN Ý :


                I. ĐẶT VẤN ĐỀ :


                1. Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc, nhà thơ hiện thực và nhân đạo lớn nhất trong văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX – không chỉ nổi tiếng với “Truyện Kiều” mà ông còn là nhà thơ sáng tác bằng chữ Hán điêu luyện.


                2. “Thanh Hiên thi tập” là những sáng tác bằng chữ Hán thể hiện tình cảm sâu sắc của Nguyễn Du với thân phận con người – nạn nhân của chế độ phong kiến.


                3. Trong đó, Độc Tiểu Thanh ký là một trong những sáng tác đưọc nhiều người biết đến, thể hiện sâu sắc tư tưởng Nguyễn Du và làm người đọc xúc động vì tình cảm nhân đạo cao cả của nhà thơ.


                II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :


                A/ Định hướng phân tích :


                1. Độc Tiểu Thanh ký có nghĩa là “đọc tập Tiểu Thanh ký” của nàng Tiểu Thanh. Đó là người con gái có thật, sống cách Nguyễn Du 300 năm trước ở đời Minh (Trung Hoa). Nàng là người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì làm lẽ nên bị vợ cả ghen, đày ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ. Buồn rầu, nàng sinh bệnh chết và để lại tập thơ. Nhưng vợ cả vẫn ghen nên đốt tập thơ, chĩ còn lại một số bài thơ tập hợp trong “phần dư”. Bản thân cuộc đời Tiểu Thanh cũng đã để lại niềm thuơng cảm sâu sắc cho Nguyễn Du.


                2. Cảm hứng xuyên suốt toàn bài được diễn tả trong khuôn khổ cô đúc của thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Nguyễn Du khóc người cũng để tự thương mình. Dù là cảm xúc về một cuộc đời bất hạnh đã cách ba trăm năm, nhưng thực chất cũng là tâm sự của nhà thơ trước thời cuộc.


                B/ Chi tiết :


                1. Hai câu đề : Hai câu mở đầu của bài thơ giúp người đọc hình dung ra hình ảnh của nhà thơ trong giờ phút gặp gỡ với tiếng lòng của Tiểu Thanh :


                                        Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư


                                        Độc điếu song tiền nhất chỉ thư


                                        (Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang


                                        Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)


                a) Hai câu thơ dịch đã thoát ý nguyên tác nên làm giảm đi phần nào hàm ý súc tích của câu thơ chữ Hán. Nguyễn Du không nhằm tả cảnh đẹp Tây Hồ mà chỉ mượn sự thay đổi của không gian để nói lên một cảm nhận về biến đổi của cuộc sống. Cách diễn đạt vừa tả thực vừa gợi ý nghĩa tưọng trưng. “Tây hồ hoa uyển” (vườn hoa Tây Hồ) gợi lại cuộc sống lặng lẽ của nàng Tiểu Thanh ở vưòn hoa cạnh Tây Hồ – một cảnh đẹp nổi tiếng của Trung Hoa. Nhưng hàm ý tượng trưng được xác lập trong mối quan hệ giữa “vườn hoa – gò hoang”. Dường như trong cảm quan Nguyễn Du, những biến thiên của trời đất đều dễ khiến ông xúc động. Đó là nỗi niềm “bãi bể nương dâu” ta đã từng biết ở Truyện Kiều. Nhìn hiện tại để nhớ về quá khứ, câu thơ trào dâng một nỗi đau xót ngậm ngùi cho vẻ đẹp chỉ còn trong dĩ vãng.


                b) Trong không gian điêu tàn ấy, con người xuất hiện với dáng vẻ cô đơn, như thu mọi cảm xúc trong hai từ “độc điếu”. Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc một tập sách (nhất chỉ thư). Một mình đối diện với một tiếng lòng Tiểu Thanh 300 năm trước, câu thơ như thể hiện rõ cảm xúc trang trọng thành kính với di cảo của Tiểu Thanh. Đồng thời cũng thể hiện sự lắng sâu trầm tư trong dáng vẻ cô đơn. Cách đọc ấy cũng nói lên được sự đồng cảm của nhà thơ với Tiểu Thanh, “điếu” là bày tỏ sự xót thương với người xưa. Không phải là tiếng “thổn thức” như lời thơ dịch, mà nước mắt lặng lẽ thấm vào trong hồn nhà thơ.


                2. Hai câu thực :


                Hai câu thực đã làm sáng tỏ cho cảm giác buồn thuơng ngậm ngùi trong hai câu đề :


                                        Chi phấn hữu thần liên tử hậu


                                        Văn chương vô mệnh lụy phần dư


                                        (Son phấn có thần chôn vẫn hận


                                        Văn chương không mệnh đốt còn vương)


                a) Nhà thơ mượn hai hình ảnh “son phấn” và “văn chương” để diễn tả cho những đau đớn dày vò về thể xác và tinh thần của Tiểu Thanh gửi gắm vào những dòng thơ. Theo quan niệm xưa, “son phấn” – vật trang điểm của phụ nữ có tinh anh (thần) vì gắn với mục đích làm đẹp cho phụ nữ. Cả hai câu thơ cùng nhằm nhắc lại bi kịch trong cuộc đời Tiểu Thanh – một cuộc đời chỉ còn biết làm bạn với son phấn và văn chương để nguôi ngoai bất hạnh.


                b) Mượn vật thể để nói về người. Gắn với những vật vô tri vô giác là những từ ngữ chỉ cho tính cách, số phận con người như “thần” và “mệnh”. Lối nhân cách hóa thể hiện rõ cảm xúc xót xa của nhà thơ về những bất hạnh của kiếp người qua số phận của Tiểu Thanh. Kết cục bi thảm của tiểu Thanh xuất phát từ sự ghen tuông, lòng đố kỵ tài năng của người đời. Dù chỉ là những đồ vật vô tri vô giác thì chúng cũng phải chịu số phận đáng thương như chủ nhân : son phấn bẽ bàng, văn chương đốt dở. Hai câu thơ đã gợi lên sự tàn hẫn của bọn người vô nhân trước những con người tài hoa. Đồng thời, cũng thể hiện nhận thức của Nguyễn Du vốn rất nhạy cảm trước cuộc đời của khách “hồng nhan bạc phận”, gắn với quan niệm “tài mệnh tương đố” của Nho gia. Vật còn như thế, huống chi ngưòi! Vượt lên trên những ảnh hưởng của thuyết thiên mệnh là cả tấm lòng giàu cảm thương của Nguyễn Du.

    Gửi lúc 23:54, 23/06/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    3. Hai câu luận :


                Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con người trong xã hội phong kiến :


                                                    Cổ kim hận sự thiên nan vấn


                                                    Phong vận kỳ oan ngã tự cư


                                                    (Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi


                                                    Cái án phong lưu khách tự mang)


                a) Nỗi oan của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng nàng mà còn là kết cục chung của những người có tài từ “cổ” chí “kim”. Nhà thơ gọi đó là “hận sự”, một mối hận suốt đời nhắm mắt chưa yên. Trong suy nghĩ ấy, có lẽ Nguyễn Du còn liên tưởng đến bao cuộc đời như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ – những người có tài mà ông hằng ngưỡng mộ – và bao người tài hoa bạc mệnh khác nữa. Những oan khuất bế tắc của nghìn đời “khó hỏi trời” (thiên nan vấn). Câu thơ đã giúp ta hình dung rõ cuộc sống của những nạn nhân chế độ phong kiến, dồn nén thái độ bất bình uất ức ủa nhà thơ với thời cuộc, đồng thời cũng thể hiện một sự bế tắc của Nguyễn Du.


                b) Khóc người để thương mình, cảm xúc đồng điệu đã làm thành câu thơ bất hủ “phong vận kỳ oan ngã tự cư” (Ta tự cho mình cũng ở trong số những kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã). Ở đó là tình cảm chân thành đồng điệu của Nguyễn Du, cũng thể hiện tầm vóc lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo rất đẹp và rất sâu của ông.


                c) Không phải chỉ một lần nhà thơ nói lên điều này. Ông đã từng hóa thân vào nàng Kiều để khóc thay nhân vật, ông đã từng khẳng định một cách đầy ý thức “thuở nhỏ, ta tự cho là mình có tài”. Cách trông người mà ngẫm đến ta ấy, trong thi văn cổ điển Việt Nam trước ông có lẽ hiếm ai thể hiện sâu sắc như vậy. Tự đặt mình “đồng hội đồng thuyền” với Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã tự phơi bày lòng mình cùng nhân thế. Tâm sự chung của những ngưòi mắc “kỳ oan” đã đưọc bộc bạch trực tiếp mạnh mẽ trong tiếng nói riêng tư khiến người đọc cũng không khỏi ngậm ngùi. Tâm sự ấy không chỉ của riêng Nguyễn Du mà còn là nỗi niềm của các nhà thơ thời bấy giờ.


                4. Hai câu kết :


                Khép lại bài thơ là những suy tư của Nguyễn Du về thời thế :


                                        Bất tri tam bách dư niên hậu


                                        Thiên hà hà nhân khấp Tố Như


                                        (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa


                                        Ngưòi đời ai khóc Tố Như chăng)


                a) Khóc cho nàng Tiểu Thanh ba trăm năm trước bằng giọt lệ chân thành của trái tim đồng điệu, dòng suy tưởng đã đưa nhà thơ đến ba trăm năm sau cùng một mối hồ nghi khó giải tỏa. Tiểu Thanh còn có tấm lòng tri kỷ của Nguyễn Du tìm đến để rửa những oan khiên bằng giọt nưóc mắt đồng cảm. Còn nhà thơ tự cảm thấy sự cô độc lẻ loi trong hiện tại. Câu hỏi người đời sau ẩn chứa một khát khao tìm gặp tấm lòng tri âm tri kỷ giữa cuộc đời. (Đó cũng là tâm trạng của Khuất Nguyên – “người đời say cả một mình ta tỉnh”, cách Nguyễn Du hai nghìn năm; của Đỗ Phủ, cách Nguyễn Du một nghìn năm : “Gian nan khổ hận phồn sương mấn”)


                b) Nhà thơ tự thể hiện mình bằng tên chữ “Tố Như” không phải mong “lưu danh thiên cổ” mà chỉ là tâm sự của một nỗi lòng tha thiết với cuộc đời. Câu thơ còn là tâm trạng bi phẫn của nhà thơ trước thời cuộc. Khóc ngưòi xưa, nhà thơ tự khóc cho chính mình, giọt lệ chảy quanh kết lại một bóng hình Nguyễn Du, lặng lẽ cô đơn khiến người đọc phải se lòng khi ngẫm đến những nỗi đau thấm thía và dày vò tinh thần của những ngưòi tài hoa phải sống trong bóng đêm hắc ám của một xã hội rẻ rúng tài năng.


    III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ :


                1. Đã hơn hai trăm năm trôi qua, bài thơ của Nguyễn Du vẫn còn lưu giữ một tấm lòng với con người sâu sắc và chân thành. Đó là tình cảm không biên giới, vượt thời gian, xuất phát từ gốc rễ “thương người như thể thương thân” của dân tộc.


                2. Không phải đợi đến ba trăm năm sau, ánh sáng của thời đại mới đã làm sáng mãi tên tuổi của Nguyễn Du trong lòng dân tộc, tên tuổi Tố Như đã làm vinh danh dân tộc Việt Nam. Cuộc sống đã đổi thay, nhiều niềm vui của dân tộc đang nhân lên trước cánh cửa vào thế kỷ XXI, thế nhưng chúng ta vẫn trân trọng và cảm thông nỗi buồn của Nguyễn Du – nỗi buồn thời đại quá khứ. Thời đại mới giải tỏa cho những bế tắc của Nguyễn Du và thời đại của ông, tiếp thu tinh thần nhân bản dân tộc ấy :


                                                    Hỡi Người xưa của ta nay


                                                    Khúc vui xin lại so dây cùng Người


                                                                            (Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)

    [size=4][red] Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tha rieng phong cach mien Trung

    Gửi lúc 23:56, 23/06/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    Bài bình ca dao :


    MÌNH MÃI CÒN SON


    Mình nói với ta mình hãy còn son


    Ta đi qua ngõ thấy con mình bò


    Con mình những trấu cùng tro


    Ta đi gánh nước tắm cho con mình


    Con mình vừa đẹp vừa xinh


    Một nửa giống mình, nửa lại giống ta


                    Ca dao với cặp hô ứng “mình – ta” có nhiều dạng : có bài thì tha thiết : “Mình về có nhớ ta chăng/Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”; có bài lại độc địa với nhau : “Bao giờ chạch đẻ ngọn đa/Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình…”. Riêng ba cặp lục bát của bài ca dao này đã chứa đựng rất nhiều kịch tính bắt nguồn từ chuyện “mình nói với ta  mình hãy còn son”.


                    Trong đời, nhiều cô gái đã gặp phải loại Sở Khanh “quất ngựa truy phong” biệt mù tăm tích sau khi “con ong đã tỏ đường đi lối về”. Có người vì muốn đi tìm hạnh phúc mới đã phải che đậy quá khứ trót lầm lỡ của mình, cũng có người mong tìm một chỗ dựa để có thể chăm sóc đứa con ngoài ý muốn… Cảnh ngộ trớ trêu ấy không chỉ là tàn tích của một thời quá khứ vốn rất nhiều định kiến dành sẵn cho người phụ nữ mà bây giờ vẫn thế, nên có bao người như cô gái đành chọn giải pháp đặt mình lên bàn cân số phận, để gửi gắm hy vọng mong manh vào một người đàn ông có thể đem lại hạnh phúc cho mình.


                    Sự thật vô tình bị phát hiện, khi “ta đi qua ngõ thấy con mình bò” quả thật dở khóc dở cười. Dẫu ta – mình đã có tình ý, sâu nặng đến mấy cũng khó  chấp nhận một điều dối trá hiển nhiên. Chàng trai nếu là người hời hợt, thiếu bản lĩnh thì cũng có đủ lý do để thản nhiên bước luôn qua ngõ, thậm chí còn hả hê vì thoát cảnh “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ”. Lúc ấy, cô gái sẽ bị xem là hạng đàn bà lẳng lơ, mượn vẻ ngoài còn xuân sắc để mồi chài, quyến rũ đàn ông. Màn kịch sẽ chấm dứt ngay từ cặp lục bát đầu tiên, hạnh phúc không bao giờ đến với cô gái.


                    Cái nhìn của chàng trai ở đây không phải hờ hững như vậy, vì chàng còn nhận ra “con mình những trấu cùng tro”. Câu thơ gợi lên nỗi đời cay đắng của cô gái khi chịu nỗi nhục của kẻ “bôi tro trát trấu” vào danh dự của bản thân, gia đình, dòng tộc, xóm làng. Ở màn hai này, chỉ có chàng trai lẳng lặng “gánh nước tắm cho con mình”. Nếu lời ca dao dừng lại ở đây, nghĩa cử hào hiệp ấy cũng chỉ là dấu hiệu của một sự thương hại không hơn không kém. Giả sử cô gái vì chịu ơn mà đền đáp lại thì hạnh phúc chưa có gì bảo đảm. Vì lòng thương hại chưa đủ làm cơ sở cho mối duyên bền vững.


                    Cặp lục bát thứ ba vẫn là lời chàng trai như một sự kết ý vừa khéo, để̉ giúp ta hiểu trọn tấm lòng chàng. Ngôn ngữ dân tộc đến đây mới phát huy hết vẻ đẹp tinh diệu trong lời khen “con mình vừa đẹp vừa xinh”. Đẹp là phẩm chất bên trong, xinh là diện mạo bên ngoài. Quan trọng hơn là đẹp xinh giống mình – với nghĩa chiêu tuyết, bênh vực cho cô gái. Còn “con mình” đâu phải phân biệt con mình – con ta, mà “con của mình” cũng như “con của chúng mình” – nên mới giống ta. Vì yêu mình, yêu cả con mình, chàng đã nguyện làm người “gánh nước” gột sạch mặc cảm lầm lỡ cho cô gái. Chàng trai vừa khôn khéo, vừa nhân hậu nên biết tự tạo hạnh phúc cho riêng mình, còn biết đem đến hạnh phúc thật sự cho người mình yêu.


    Phải là người yêu hết mình một cách chân thực thì ta mới tìm ra ẩn số sau lời hé mở mình hãy còn son. Cô gái trong bài ca dao này quả cũng “ghê gớm” và chủ động không kém Hồ Xuân Hương khi tự nhận mình hãy còn son. Tấm lòng son đã gặp gỡ tấm lòng vàng, với chàng trai thì cô mãi vẫn còn son, âu cũng là tri âm tri kỷ vậy !


                                                                                                    Qui Nhơn, ngày khai trường năm 2000


                                                                                                                    Trần Hà Nam

    Gửi lúc 00:02, 24/06/03Về đầu trang

     
    Các chủ đề liên quan

    Đề nghị các bạn tuân thủ qui định của diễn đàn khi gửi bài lên diễn đàn. Để bảo vệ diễn đàn, các bạn hãy thông báo với ban quản trị khi thấy các bài vi phạm qui định bằng cách ấn vào biểu tượng ở bên cạnh mỗi bài.

    Trang chủ |  Đăng ký |  Các diễn đàn |  TTVN Life |  Chủ đề mới |  Bài gần đây |  Tìm kiếm |   Sự kiện |  Sổ lưu niệm |  Từ điển |  Download  |   Thành viên |   Trưng cầu  |  Hướng dẫn |  Trang cá nhân |  Sửa thông tin riêng |  Danh sách bạn |  Các đánh dấu |  Ai đang làm gì?

    Trai tim Viet Nam Online (c) 2000-2003 TTVNOL Friends Group.

    Sử dụng phần mềm TTVNOnline Forum .NET 8.1, Snitz Forum 2000


    7.140625