Bạn chưa đăng nhập,
hãy nhấn vào đây để đăng nhập

12434821 người đang duyệt site , trong đó có 15516 thành viên
 
 

Tất cả các diễn đàn
Giáo dục, đào tạo, học đường
 

Đề thi - Đáp ánDu họcGiáo dục đào tạo, Phổ biến kiến thứcSinh viênHọc sinh


   Đề thi - Đáp án
 
  Thêm một số tư liệu Văn THPT của THN


 Chủ đề mới  Them cuoc Binh chon moi Trưng cầu mới
Trả lời Trả lời
 Gửi cho bạn của bạn  In ấn

    1706 người đang xem chủ đề này, trong đó có 1 thành viên
  • zinanguyen63 ,

    <<Chủ đề trước...  Chủ đề tiếp theo>>



  •   1 | 2 | 3 | 4 |
       << Đầu  |  Trước  |  Sau  |   Cuối >>
    Tác giả Chủ đề này đã có 7531 lượt đọc và 32 bài trả lời  
      
    Xuka
    Người yêu nhạc cổ điển - Một người muốn xây dựng TTVNONLINE tốt đẹp hơn.



    ,Vietnam
    Thành viên từ 11:09, 11/05/01


    Đã được 9 người bình chọn (3.11)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    Hay quá, tiếp đi bác, cho tôi xin mấy bài về Nguyễn Đình Thi nhé.
    Thx

    ------------------------------
    Xuka

    Gửi lúc 17:23, 05/07/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM "CHÍ PHÈO" CỦA NAM CAO


    Vấn đề cần triển khai về "Chí Phèo" :


    -          Bi kịch không được làm người lương thiện, bị hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình.


    -          Bá Kiến : Tội ác với những thủ đoạn thâm độc, tinh vi.


    -          Chí Phèo : nhân vật không tính cách, bi kịch xuất hiện khi gặp Thị Nở.


    -          Thị Nở : khát vọng : tình yêu ĩ hạnh phúc à làm người


    "người đàn bà đẹp trong lốt xấu xí" - hiện thân của khát vọng.)


    -          Xung đột mang ý nghĩa điển hình, cuộc đấu tranh xã hội không khoan nhượng


    -          Tâm hồn nhân hậu của Nam Cao và thái độ bi quan trước hiện thực của nhà văn


    I.                   Đặt vấn đề :


    * Cách 1 :Những năm 40 của thế kỷ, trên văn đàn hiện thực Việt Nam , Nam Cao nổi bật với những trang viết khai phá sâu sắc bi kịch của những kiếp người khổ đau trong bóng đêm của xã hội cũ. Những cuộc đời lầm than đi vào trang sách của Nam Cao đã sống mãi với thời gian. Gắn những nhân vật của mình vào không khí ngột ngạt tối tăm của chế độ thực dân phong kiến, nhà văn đã lột trần bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị, cảm thương sâu sắc nổi đau của con ngưòi. Tấm lòng nhà văn hướng về cuộc sống lầm than cơ cực của người nông dân, phát hiện trong những quẩn quanh bế tắc là bi kịch khủng khiếp hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình. Chí Phèo, sáng tác đầu tiên của Nam Cao ra mắt người đọc từ tháng 2 năm 1941, đã có sức tố cáo bộ mặt vô nhân của xã hội và phản ánh bế tắc cùng cực của người nông dân. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những trang viết sâu sắc đầy tình người vẫn sống mãi, gợi nhớ một quá khứ tủi nhục đau thương của dân tộc.


    * Cách 2 : Tiếng chửi của một thằng say đã mở đầu cho thiên truyện ngắn đặc sắc "Chí  Phèo" của Nam Cao. Nhà văn đã mở ra một cuộc đời đầy bi kịch của một Chí Phèo - thù hận với tất cả : cuộc đời - xã hội - con người và ngay cả bản thân, một Chí Phèo triền miên trong những cơn say, mất cả lương tri, trên hành trình dài đằng đẵng của một kiếp sống không ra sống, trong không gian tăm tối ngột ngạt của xã hội Việt Nam đêm trước của cách mạng. Nhà văn đã dẫn dắt người đọc vào một cuộc đời đau khổ và kết thúc trong cái vòng luẩn quẩn bế tắc. Để khi gấp trang sách lại, trái itm mỗi người vẫn còn thổn thức những buồn thương đau đớn trước bi kịch khó tin của những người không được làm người lương thiện trong xã hội cũ.


    II. Giải quyết vấn đề :


              A. Tổng : (bao quát tinh thần của tác phẩm)


              1. Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ do tài năng của Nam Cao đã tạo dựng được cốt truyện theo kết cấu rất hiện đại, mà trước hết xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc của nhà vănvới đồng loại của mình. Đằng sau lối kể chuyện lạnh lùng tỉnh táo là cả một trái tim nhân hậu đằm thắm đối với người nông dân - những người sống cùng tác giả. Những vấn đề Nam Cao đề cập trong tác phẩm đâu chỉ là cái nhìn sắc sảo, cách phân tích hiện thực tinh tế, mà còn gắn với quan niệm của nhà văn về cuộc sống, sáng lên tình cảm gắn bó, yêu thương trân trọng tất cả những giá trị cao đẹp gắn với con người của nhà văn.


              2. Aùnh sáng của tình người nhân hậu ấy đã giúp nhà văn phát hiệ nra nguyên nhân của những tấn bi kịch đời người trong xã hội cũ, thắp sáng lên khát vọng mãnh liệt muốn trở về cuộc sống lương thiện. Nhưng trong bóng đêm dày đặc của xã hội cũ, ánh sáng ấy đã tắt ngấm với bao buồn thương bế tắc, trước khi ánh sáng của một ngày mới bừng lên quét sạch bóng đêm. Tuy vậy, ngọn lửa của khát vọng làm người vẫn âm ỉ nhức nhối trong từng câu chữ Nam Cao.


              3. Bi kịch của Chí Phèo chỉ thật sự bắt đầu cùng với lần tỉnh rượu đầu tiên của nhân vật, chứa đựng tất cả sóng gió đi qua cuộc đời Chí Phèo, sau đêm trăng huyền thoại - cái đêm "trăng rắc bụi trên sông và sông gợn biết bao nhiêu vàng" - đã đem đến cho Chí một người đàn bà đích thực trong  cái lốt xấu xí "ma chê, quỷ hờn" : Thị Nở.


    Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tinh rieng phong cach mien Trung

    Được Milou sửa chữa / chuyển vào 04:17 ngày 08/07/2003

    Gửi lúc 09:48, 06/07/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    B. Phân : (cảm nhận chi tiết - phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật) :


              * Khoảnh khắc bi kịch của Chí Phèo


              1/ Cùng với ánh sáng cuả một ngày mới,, lần đầu tiên Chí Phèo nhận biết được những âm thanh đời thường : "Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ.  Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá". Cả một đoạn văn được viết bằng giọng điệu trữ tình tha thiết đã khắc họa rõ nét sự hồi sinh của tâm-hồn-người trong con-quỷ-dữ của làng Vũ Đại thật cảm động. Một cảm-giác-người đã thức tỉnh lý trí, nối kết quá khứ với hiện tại, một thời yên bình xa xưa và trước mắt là tuổi già, đói rét và ốm đau và cô độc.


              2/ Hiện tại lay thức lương tâm thành tiếng thở dài não nuột "Chao ôi là buồn!".. Một nỗi buồn đáng quý, bởi nó đã khơi lại những giấc mơ giản dị của một thời lương thiện: "Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏmột con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm". Chao ôi là buồn! Vì mãi mãi cái ước mơ về hạnh phúc nhỏ nhoi ấy không bao giờ thành hiện thực, bởi bàn tay tội ác của những kẻ như Bá Kiến đã tước đoạt vĩnh viễn con-người-lương thiện của Chí ngày xưa. Nhưng trong hình hài quỷ dữ, vẫn ẩn náu giấc mơ ngày nào,  dù chỉ nhớ lại một cách lờ mờ "hình như…" cũng đủ khẳng định cho sức phản kháng của lương thiện trước tội ác. Để khi hồi sinh thì không thể nào các thế lực hắc ám có thể bóp chết được lương tâm bé bỏng ấy.


              3/ Phút lóe sáng của tâm hồn đã giúp nhân vật ý thức nỗi đau của một kẻ cô đơn giữa đồng loại của mình  : "Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già củ hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau". Nam Cao đã diễn tả đặc sắc và độc đáo giờ phút bừng thức của nhân vật, bằng lối văn đặc tả sự "bâng khuâng" trong tâm hồn Chí Phèo. Phút ban đầu ấy, quá khứ mơ hồ, hiện tại mơ hồ, tương lai mờ mịt đều nằm trong hai chữ "hình như…". Ở đó le lói ngọn lửa của một trái tim Người.


              4/ Thị Nở xuất hiện cùng nồi cháo hành đã thổi bùng ngọn lửa mong manh ấy, đem đến cho trái tim Chí Phèo những nhịp đập đầu tiên của cảm giác tình yêu. Ngòi bút phân tích tâm lý của Nam Cao hết sức tinh tế và nhạy cảm khi mô tả quá trình về lại với cõi người  của Chí Phèo : bắt đầu từ ranh giới mong manh "hình như mắt ươn ướt" như một tiếng khóc chào đón cuộc đời mới, cho đến khi Chí Phèo gặp nụ cười Thị Nở là lúc tình yêu bắt đầu lên tiếng - giúp nhân vật ý thức đầy đủ về quãng đời đã qua. Bát cháo thứ nhất là ý thức về Tình Yêu và Dục Vọng. Bát cháo thứ hai là niềm sám hối về tội ác, mở ra khát khao hướng thiện mãnh liệt "Trời ơi, hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn". Cùng với niềm khát khao ấy, Chí Phèo đã trở lại với bản chất của anh Chí ngày xưa : hiền lành, lương thiện. Con đường trở về được hứa hẹn bằng nụ cười tin cẩn của Thị Nở ,làm nở ra nụ cười Chí Phèo. Từ tiếng khóc đến nụ cười, Chí Phèo đã thật sự vươn dậy cùng khát vọng làm người.


    * Thị Nở :


    1/ Tình yêu và niềm tin mà Chí Phèo có được bắt đầu từ Thị Nở - nhân vật đẹp nhất của tác phẩm. Có thể những chi tiết mô tả ngoại hình Thị Nở làm nguời đọc nhớ nhiều và ấn tượng mạnh về người đàn bà nhan sắc xấu nhất trong lịch sử vă nhọc. Và những kẻ vô tâm,  chỉ quan tâm hình thức câu  khách rẻ tiền mà thờ ơ trước nỗi đau đồng loại mới cười cợt , gán ghép cho tác phẩm tên gọi sống sượng "Đôi lứa xứng đôi". Người đàn bà Nam Cao tạo ra để ban tặng cho Chí Phèo để giúp hắn trở lại làm người nếu là một mỹ nhân thì mới là điều lạ. Vẻ đẹp của Thị Nở không nằm trong hình thức mà bộc lộ ngay trong những nét "dở hơi" ngược với quan niệm xã hội.


    2/ Người đàn bà đó có đủ đức tính của một người tình tuyệt vời, một người vợ tảo tần và có trái tim người mẹ bao dung, độ lượng. Trong cuộc gặp gỡ tình yêu Thị Nở - Chí Phèo, Nam Cao đã lột tả những vẻ đẹp ấy thông qua những chuyển biến tâm trạng Chí Phèo : người đàn bà đích thực đối lập với "con quỷ cái" bà Ba,  "hắn muốn làm nũng thị như với mẹ". Thị Nở có đầy đủ phẩm chất của một người bình thường : biết lo toan, thương hại, có phút "lườm", "e lệ" trong cảm giác tình yêu và trên tất cả là tiếng cười tin cẩn như một phép màu giải thoát cho con người thoát ra mặc cảm tội lỗi. Có thể nói Nam Cao đã xây dựng nhân vật Thị Nở bằng bút pháp hiện thực trữ tình để gửi gắm niềm tin của chính ông vào bản chất hướng thiện của con nguời. Thực tế trong đời có lẽ khó kiếm ra người nào hội tụ những cái xấu nhường ấy và đẹp nhường ấy. Nhưng cuối cùng Thị Nở vẫn phải trở về với mảnh đất hiện thực - nơi Thị có một bà cô già năm mươi tuổi chưa chồng, để được nghe lời phán xét tương lai cho mối tình Chí Phèo - Thị Nở. Nhân vật vẫn không có phép màu như trong cổ tích để có thể kéo hẳn Chí Phèo  ra khỏi hình hài lốt quỷ để hoà nhập vào cuộc sống thân thiện của loài người, bởi bản thân Thị Nở cũng bị cả xã hội kia xem như "con vật ghê tởm nhất". Ta chợt nhận ra : cái gọi là hạnh phúc ở đời không dành sẵn cho những người như Chí Phèo - Thị Nở, đó là thông điệp đầy phẫn uất của Nam Cao. Tuy căm uất dâng tràn nhưng vẫn phải cố nén xuống trong giọng văn tỉnh rụi - bản lĩnh nhà văn đã không để ông can thiệp vào số phận nhân vật của mình một cách thô bạo, Nam Cao muốn những nguời đọc có lương tri phải thấu hiểu những khoảnh khắc xung đột của Thị Nở, của Chí Phèo sau giờ phút "thị trút vào mặt hắn nguyên vẹn lời bà cô". Đó là khoảnh khắc nẻo về của  Chí đã bị chặn đứng bởi những định kiến xã hội về một con người đã có quá nhiều vết đen trong quá khứ - một kẻ "không cha không mẹ", chỉ có mỗi một "nghề rạch mặt ăn vạ". Đôi khi những định kiến thật tàn nhẫn, nó tước đoạt cơ hội cuối cùng của Chí Phèo trở lại cuộc sống bình thường.


    Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tinh rieng phong cach mien Trung

    Được Milou sửa chữa / chuyển vào 04:18 ngày 08/07/2003

    Gửi lúc 09:49, 06/07/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    * Nỗi đau Chí Phèo :


    1/  Trong giờ phút tột cùng đau đớn của một người tuyệt vọng, nhà văn đã để nhân vật có những khoảnh khắc tâm trạng thật khó quên : "Hắn ngẩn người ra rồi chợt hiểu", "hắn sửng sốt đứng lên gọi Thị lại…". Chỗ dựa cuối cùng để Chí tưởng có thể đứng vững trên hành trình trở lại cõi người giờ đây không còn nữa! Ta có thể nhận ra nỗi bàng hoàng đến ê chề của Chí. Tất cả đều sụp đổ, hắn trở về với cuộc sống đầy bóng tối của mình. Nhưng điều không bình thường là ngay trong giờ phút ấy, "hắn thoáng hít thấy hơi cháo hành" - hơi cháo tình người đích thực mà Chí đã được ban tặng từ Thị Nở


    2/ Lại rượu, lại say, Chí muốn mượn rượu để quên đi thực tại, trở về với cuộc sống u mê lẫn lộn thật giả tốt xấu trắng đen thiện ác của loài quỷ dữ. Nhưng lương tri đã hồi sinh. Hơi cháo hành cứ lẫn cùng men rượu. Tiếng khóc bật ra "Hắn ôm mặt rưng rức khóc" . Chưa khi nào, Chí lại phải  chịu đựng sự giằng xé của lương tâm dữ dội như vậy. Chí đang phải đối diện với chính mình, trong sự phán xét nghiêm khắc của lương tâm.


    3/ Tưởng chừng tội ác đã thắng thế khi trong hơi rượu, Chí lại xách dao ra đi, miệng lảm nhảm ý định "đâm chết cả nhà con đĩ Nở". Nhưng hơi cháo hành đã quyện vào trong tâm hồn Chí, để giờ đây, tội ác không còn có thể sai khiến được hành động của anh. Phần người còn lại đã chiến thắng chất quỷ dữ, để sau bao nhiêu năm lầm lỡ, giờ đây Chí nhận rõ mặt kẻ thù, hành động có vẻ vô thức đã báo hiệu cho một tiềm thức sâu thẳm của người lương thiện trong Chí. Con quỷ dữ đích thực đã tước đoạt cả nhân tính lẫn nhân hình của Chí là Bá Kiến


    * Bá Kiến :


              1/Bản lĩnh của một nhà văn và khả năng nhận thức sâu sắc thực tại xã hội đã giúp Nam Cao phác họa chân dung của giai cấp bóc lột một cách đầy đủ nhất so với các nhà văn đương thời. Bá Kiến được đặt vào một vị trí trang trọng trong xã hội, khi nhà văn phác họa nên  một lai lịch của một kẻ già đời trong nghề bóc lột : gia đình bốn đời làm tổng lý, bản thân Bá Kiến từng là lý trưởng, chánh tổng; cha truyền con nối trong thủ đoạn đè đầu cưỡi cổ người khác. Những kẻ như thế, vẫn được gọi bằng ông, bằng cụ một cách tôn kính. Uy quyền của Bá Kiến không phải chỉ bó hẹp trong phạm vi của một làng, mà "cụ Bá" là "bá hộ, tiên chỉ, chánh hội đồng kỳ hào, huyện hào, Bắc Kỳ nhân dân đại biểu " - đại biểu cho cả một bộ máy thống trị tay sai thực dân. Một nhân vật như thế, không thể là một kẻ hợm hĩnh và ngu dốt như Nghị Quế (Tắt đèn - Ngô Tất Tố) hay chỉ có tàn bạo và tham lam như Nghị Lại (Bưóc đường cùng - Nguyễn Công Hoan).


              2/ Nam Cao đã phác họa bản chất Bá Kiến bằng những chi tiết khó quên từ bên ngoài đến bên trong : cụ Bá có tiếng quát rất sang để "nắn gân người khác",   có nụ cười Tào Tháo giòn giã và "bản thân cụ cũng tự hào hơn đời cái tiếng cười ấy". Bên trong vẻ sang trọng là một con quỷ dâm ô, có tới bốn bà vợ mà còn đi cướp vợ người - khi còn làm lý trưởng đã không bỏ lỡ cơ hội ve vãn vợ Binh Chức. Nhưng điều nguy hiểm nhất ở Bá Kiến là tội ác đã được hắn nâng lên thành một nghệ thật cai trị kẻ khác : "mềm nắn, rắn buông", "dùng thằng đầu bò trị thằng đầu bò", "nắm lấy đứa có tóc", đặc biệt là những thủ đoạn rất nham hiểm :"Hãy vất người ta xuống sông rồi hãy vớt nó lên để cho nó đền ơn, hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi hãy vất trả lại năm hào vì "thuơng anh túng quá"". Chưa một nhà văn nào lại giúp người đọc hình dung ra tội ác đáng sợ đến ghê tởm như Nam Cao. Với tất cả các thủ thuật trị người ấy, Bá Kiến quả là một kẻ "khôn róc đời" và đã phá tan cơ nghiệp của biết bao gia đình, đập nát hạnh phúc của bao nguời. Đáng sợ nhất là chính những nạn nhân của Bá Kiến lại bị hắn biến thành công cụ đắc lực của tội ác: Năm Thọ, Binh Chức - với bản tính lưu manh và đỉnh điểm là Chí Phèo - đã thành con quỷ dữ của làng Vũ  Đại.


              3/ Để Chí Phèo đến nhà Bá Kiến vào chính giờ phút "cụ Bá" đang ghen với lũ trai trẻ vì "bà Tư phốp pháp, hai má hây hây…" và cụ đang có ý định "bỏ tù hết mấy thằng trai trẻ", đoạn văn quả có thể làm chúng ta bật cười vì sự ghen tuông của một ông lão đã ngoài sáu mươi, nhưng ta bỗng giật mình vì chứng tích của sự ghen tuông đáng  buồn cười ấy bỗng hiện ra : một thằng điên, một thằng say, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại,  sẵn sàng đâm chém bất cứ ai - ngày xưa nó cũng là một thằng trai trẻ…


    * Cuộc đụng đầu Chí Phèo - Bá Kiến :


    Tình huống tất yếu phải xảy đến đã được Nam Cao dày công chuẩn bị cho nhân vật của mình. Khi sự thâm hiểm và tàn bạo đã bị bóc trần, khi những "tiếng cười và tiếng quát rất sang" của cụ Bá không còn nắn gân người khác như mọi khi đuợc nữa, đó cũng là khoảnh khắc thức tỉnh lương tri của một con người. Chí Phèo trong cơn say có những hành động thật đáng sợ. Nhưng có một điều, tiếng nói vang lên "dõng dạc" lại là của một con người hoàn toàn tỉnh táo, của một anh Chí đang đòi lại quyền "làm người lương thiện" đã bị bọn cường hào như Bá Kiến tước đoạt. Sự thật được nói lên, khiến Bá Kiến phải run sợ, "dịu giọng" để lảng tránh. Mặt nạ rơi xuống, Bá Kiến hiện nguyên hình là con quỷ dữ nham hiểm và hèn nhát đang cố trốn chạy sự trừng phạt của lương tri thức tỉnh. Nam Cao đã để cho Chí trong giờ phút ấy cất lên những lời đau đớn : " Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất những vết mảnh chai trên mặt này?". Đó là nỗi đau đớn của một người đã bị chặn mất nẻo về với thế giới thân thuộc của Con Người, bởi những định kiến khắt khe của xã hội. Muốn trở về, Chí "chỉ còn một cách" là giết chết con quỷ dữ trong chính anh. Giờ phút Chí vung dao lên kết liễu đời Bá Kiến là hành động tất yếu phải xảy đến, sau đó chính anh phải tự sát đã là một câu trả lời của Nam Cao giải đáp rõ nguyên nhân bi kịch của người nông dân nghèo trong xã hội cũ - sự bế tắc, quẩn quanh vẫn đè nặng lên cuộc sống của họ.


    * Điều còn lại sau hai cái chết :


    Không dừng lại sau hành động nhân vật đâm chết kẻ thù và tự hủy chính mình, Nam Cao đã dành khúc vĩ thanh để nói lên thái độ của mọi người sau hai cái chết bất ngờ. Cuộc sống vẫn tiếp diễn, những phe cánh cường hào hí hửng vì loại được đối thủ mạnh mà không tốn công đổ sức. Cũng có nghĩa là làng Vũ Đại vẫn như xưa, vẫn cái cảnh đám cường hào chức dịch "hè nhau bóc lột con em đến tận xương tủy và nhè từng chỗ hở của nhau để trị". Một màu xám ảm đạm vẫn bao trùm lên cuộc sống, nó khiến những người lương thiện phải lo âu "tre già măng mọc, thằng ấy chết, còn thằng khác…". Và như vậy, cái chết của Chí Phèo - Bá Kiến thật vô nghĩa.


    Nhưng vẫn có một người nghĩ khác mọi người : Thị Nở. Chỉ có mình Thị còn lóe lên trong tâm tư hình ảnh của một con người "hiền như đất". Suy nghĩ ấy như một niềm an ủi cho vong linh Chí Phèo, ít ra cũng còn có một người thừa nhận anh là người trong thẳm sâu lốt quỷ. Người ta chỉ thật sự chết khi bị cuộc đời lãng quên, chối bỏ. Chí vẫn sống trong tâm hồn người đàn bà đích thực của cuộc đời anh. Có thể nhận ra ở chi tiết này thái độ chiêu tuyết cho nhân vật của chính Nam Cao, là niềm tin vào sự bất diệt của chất người sẽ không bao giờ bị hủy diệt.


    C. Hợp:


    Chi tiết cuối cùng của tác phẩm lại là hình ảnh "cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại…" là một ám ảnh về nỗi buồn nhân sinh của Nam Cao. Nơi đó, thằng bé Chí đã từng bị vứt vào đời, bị cuộc đời chối bỏ. Trong cái nhìn của Nam Cao ,chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc : nếu không thay đổi thực tại, sẽ lại tiếp tục những bi kịch quẩn quanh không lối thoát của con người. Thị Nở có thể chấp nhận Chí Phèo, nhưng không thể đối mặt với thành kiến, với tập tục của làng xã. Bi kịch chửa hoang phải bỏ làng đi của con gái Tự Lãng vẫn còn đó. Cái lò gạch cũ là chứng tích của bao số phận bất hạnh, như là bản cáo trạng về một xã hội thù địch với những khát vọng làm người lương thiện, không thừa nhận tình người tình yêu vượt qua khuôn phép. Nam Cao đã kết thúc tác phẩm bằng nỗi buồn dằng dặc của những kiếp người mà ngay lúc ra đời đã là một sự vô nghĩa lý. Trong hoàn cảnh hiện thực lúc bấy giờ, chúng ta không thể trách thái độ bi quan của nhà văn trước hiện thực. Nhưng bản thân sự việc ấy đã gợi lên suy nghĩ nung nấu trong lòng độc giả về sự cần thiết phải thay đổi hoàn cảnh để tránh cho con người khỏi sa vào vòng luẩn quẩn. Đó cũng là ý nghĩa xã hội tích cực của tác phẩm Chí Phèo.


    III. Kết thúc vấn đề :


    Đọc Chí Phèo, ta càng trân trọng tấm lòng đối với con người của nhà văn Nam Cao, hiểu được thái độ dũng cảm đối mặt hiện thực của một người cầm bút chân chính. Tác phẩm chính là minh chứng cho một quan niệm sáng tác đúng đắn của nhà văn, để "người gần người hơn". Có lẽ xuất phát từ tấm lòng ấy, tác phẩm vẫn sống mãi trong lòng bao thế hệ độc giả.


    Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tinh rieng phong cach mien Trung

    Được Milou sửa chữa / chuyển vào 04:19 ngày 08/07/2003

    Gửi lúc 09:51, 06/07/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    Đất Nước - Nguyễn Đình Thi


    I. Khái quát :


    1. Bài thơ là cảm hứng xuyên suốt cuộc kháng chiến (1948 – 1955) trong tư thế chiến thắng, hướng suy tưởng về hình tượng Tổ quốc.


    2. Hình ảnh đất nước  được khái quát trong những chi tiết mang ý nghĩa biểu trưng, thể hiện rõ tâm trạng chủ thể trữ tình.


    II. Phân tích :


    A. Cảm nhận chung :


    1 – Đề tài : Tình yêu quê hương + tình cảm thời đại : bộc lộ trực tiếp và phong phú


    2 – Cảm hứng chủ đạo : Mạch thơ phóng khoáng, nối tiếp cảm xúc và suy tuởng từ Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và  Đêm mít tinh (1949) => trăn trở của tài năng và tấm lòng – tiếng nói nhà thơ hòa nhập tình cảm dân tộc.


    B. Phân tích chi tiết :


    1. Cảm xúc trong mùa thu mới :


    a. Thời gian : xuyên suốt quá khứ đến hiện tại


    b. Không gian : dáng vẻ thân thuộc của mùa thu à cảm hứng :


                    + Ra đi trong mùa thu


                    + Trở về vào mùa thu


    => Lòng yêu mến tự hào với vẻ đẹp đất nước


    c. từ không khí mùa thu mới, gợilên những suy tưởng tự hào về đất nước => nối kết tinh thần truyền thống, góp mặt của hôm qua vào hôm nay


    2. Đất Nước trong đau thương, bất khuất :


    a. Hình ảnh                                           b. Cảm xúc


    + Nỗi đau của đất               - Hành quân nung nấu


    - Đồng quê chảy máu        - Nhớ mắt người yêu


    - Dây thép gai                      => Yêu thương căm hờn


    => cụ thể, khái quát           - Dồn nén đau thương (khổ 6 chữ)


    + Nỗi đau của người          => Lý trí, tình cảm: sức mạnh


    - Giặc Tây – Chúa đất       lòng căm thù


        đè cổ           lột da


    + Bất khuất:


    Xiềng xích ><Trời, Đất     => khẳng định tình cảm lớn


    Súng đạn < Lòng dân        tạo nên ý chí


    Bạo tàn < Ý chí                   - Kết tụ sức mạnh lịch sử


    3. Hình ảnh Đất Nước trong thời đại mới:


    a. Gắn với hiện thực vĩ đại của cuộc kháng chiến – gian lao trường kỳ nhưng đầy tinh thần lạc quan cách mạng


    b. Tầm vóc lịch sử của nước Việt Nam mới : Thực tế chiến đấu gợi hướng suy tưởng và cảm xúc.


    + Ý nghĩa tượng trưng : hình ảnh kiêu hãnh của đất nước trong chiến đấu, sức mạnh vùng lên của dân tộc


    III. Khái quát ý nghĩa :


    1. Bài thơ giàu cảm xúc và suy tưởng, khơi dậy niềm tự hào và tình yêu Tổ quốc


    2. Là sự khắc họa diện mạo đất nướcvới tầm vóc và vẻ đẹp tương xứng thời đại.


     


    Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tinh rieng phong cach mien Trung

    Được Milou sửa chữa / chuyển vào 04:20 ngày 08/07/2003

    Gửi lúc 10:05, 06/07/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    Lưu ý trong quá trình làm bài "Đất Nước" về các bước và chi tiết:


    Bước 1 : Khái quát hoàn cảnh, kết cấu nghệ thuật


     


    QUÁ KHỨ ĐAU THƯƠNG +


    HIỆN TẠI ANH DŨNG


                                                   


    SUY TƯỞNG VỀ ĐẤT NƯỚC


     


    Bước 2 : Phân tích cơ sở hiện thực và tư tưởng


    Thao tác 1 : Đọc và cảm nhận trực tiếp


    Thao tác 2 : tìm hiểu mạch thơ (CH: Đất Nước đượcnhìn nhận từ các góc độ nào?)


     


    Bước 3 : Cảm thụ trực tiếp


    1. CH : Ý nghĩa mùa thu xưa – nay? à làm nền cho tâm trạng và suy tưởng.


     


    2. Phân tích điểm : con người trong mùa thu


    Ra đi:  đầu không ngoảnh lại à ý chí


    Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy à tình cảm


    Đứng/vui/nghe: chuyển hóa từ ngoại cảnh vào tâm trạng


    Mùa thu nay của chúng ta => gợi lên suy tưởng rộng => Nước chúngta


    Khuất : bất khuất anh dũng + luôn hiện diện.


    Quá khứ                                -               Hiện tại


    + Phân tích kết cấu nghệ thuật:


    CỤ THỂ – KHÁI QUÁT


    => Dồn nén cảm xúc


    VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC


    Đau thương – chiến đấu ĩ nét mặt


                    (TG)                        quê hương


    Gốc lúa, bờ tre    ĩ           căm hờn


                    (KG)


    => Bao quát cảm xúc


    CH: Đất Nước trong chiến đấu được diễn tả như thế nào?


     Trời đất mới à thời đại mới
    Aùnh bình minh à lý tưởng cách mạng


    => VẺ ĐẸP BÊN TRONG


    Hình tượng Đất Nước :


    (Hiện thực + Suy tưởng)


    Máu lửa + bùn :hiện thực chiến trường


    Rũ bùn/ dứng dậy/ sáng lòa
    => Hình tượng lớn lao, giản dị sinh động, tự nhiên


    Bước 4 : Tóm ý nâng cao, ý nghi~a


    Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tinh rieng phong cach mien Trung

    Được Milou sửa chữa / chuyển vào 04:21 ngày 08/07/2003

    Gửi lúc 10:09, 06/07/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    ĐỌC LẠI TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG
    Giữa cái bộn bề của thị trường thơ hôm nay, lật trang sách cũ, gặp Tây Tiến của Quang Dũng, chợt xôn xao cõi lòng theo những vần thơ đượm màu kiêu bạc hào hoa: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi...
    Thơ hay có sức rung động mãnh liệt là vậy. Không cần tỉ mẩn bóc từng câu từng chữ mà thấm vào lòng người sự rung cảm chân thật đến run rẩy từng làn da thớ thịt. Tây Tiến đã thực sự chinh phục người đọc bằng tâm trạng của người trai ra đi cứu nước trong buổi đầu kháng chiến – với tâm tư in bóng trong dáng hình sông núi:
    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
    Mường Lát hoa về trong đêm hơi
    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
    Heo hút cồn mây súng ngửi trời
    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi...
    Cảnh ấy cũng là tình. Cũng là sương, là hoa, là mây, là mưa – những chi tiết thường gặp trong thơ cổ – nhưng còn đượm thêm không khí trầm hùng của thời đại được diễn tả bằng những từ ngữ, thanh điệu khi đọc lên ta cảm thấy ngang tàng. Hình ảnh của một đoàn quân mỏi đi trong cái khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, giữa cái bồng bềnh sương khói chơi vơi được tác giả phác hoạ bằng những nét chấm phá tài tình. Con mắt thơ không dừng lại ở trong không gian rừng núi mà còn mở ra một không gian – tâm trạng của một hồn thơ chiến sĩ. Phảng phất một chút Lý Bạch trước Hoàng Hà – ngút ngát chí tang bồng của người trai thời loạn. Trong gian nan của người chiến sĩ Tây Tiến, ta vẫn gặp chút hóm hỉnh ở hình ảnh súng ngửi trời. Chạm mặt với thực tế khắc nghiệt – song chất hào hoa lãng tử không mất đi mà lại càng được tô đậm thêm, chân thật sống động trong những câu thơ đượm tình quê, tình đồng đội, tình quân dân. Một hiện thực về người lính Tây Tiến – anh Bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu chiến đấu gian khổ. Đó là cơn mưa gợi nỗi nhớ nhà sâu thẳm, là sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người, một bóng hình đong đưa làm xao xuyến những trái tim trai trẻ...
    Bài thơ có nói đến hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng cảm xúc hào hùng của lớp người “ra đi bảo tồn sông núi” đã lấn át cái bi luỵ buồn thương. Đoàn binh Tây Tiến trong thơ Quang Dũng như một sự kết tụ của tráng khí muôn đời, pha chút lãng mạn kiểu Kinh Kha “một đi không trở lại”. Phải chăng với tinh thần “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” mà toàn bài thơ mặc dù có nói đến chết chóc nhưng giọng điệu rất bình thản: anh về đất? Phải chăng khi xác định chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, người chiến sĩ đã nhận ra mục đích của cuộc chiến đấu còn lớn hơn gấp vạn lần những gian khổ , hy sinh?
    Bài thơ không cường điệu hoá cảm xúc dẫu trong âm điệu gân guốc, khoẻ khoắn của toàn bài có những từ ngữ mang hơi hướng cổ điển như xiêm áo, dữ oai hùm, mồ viễn xứ, áo bào, khúc độc hành và cách diễn đạt tưởng chừng lạ lẫm tràn ngập không khí lãng mạn. Nếu chỉ chăm chăm đi tìm chất thép trong bài thơ theo quan điểm xã hội học thiển cận thì chẳng khác nào cầm dao đâm vào cái đẹp. Cái đẹp của bài thơ viết ra từ lửa máu đã làm rung lên những cảm xúc đồng điệu của bao thế hệ.
    Tháng 12 – 1994


    Ta trai Binh Dinh hoi kho cung - Rat that tinh rieng phong cach mien Trung

    Gửi lúc 23:36, 14/07/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão
    Trần Hà Nam
    Âm vang của thời đại Đông A với những chiến công lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm, ba lần đánh bại Nguyên – Mông đã in dấu trên nhiều trang viết của các nhà thơ đương thời. Phạm Ngũ Lão – danh tướng nhà Trần “đánh đâu thắng đó” cũng ghi lại những xúc cảm của mình qua Thuật Hoài - tác phẩm thể hiện rất đẹp hình ảnh và khí thế của người trai thời đại, cũng là tư thế của dân tộc trong những ngày hào hùng ấy.
    Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu
    Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu
    Nam nhi vị liễu công danh trái
    Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu
    Bài thơ chữ Hán , vẻn vẹn 28 chữ đã có một dung lượng thông điệp thẩm mỹ lớn, thể hiện khí phách nhà thơ – dũng tướng. Thi ngôn chí là nội dung tư tưởng của đề tào Thuật hoài, Vịnh hoài, cảm hoài... Nhưng sẽ không thể có cái ung dung hào sảng nếu tách bài thơ ra khỏi không khí thời đại bừng bừng “sát Thát”. . Bài thơ không tách rời khỏi quỹ đạo tư tưởng Nho giáo trong mẫu hình người anh hùng cá nhân phong kiến nhưng trước hết nó là nỗi lòng của người “một thời tuy đã nên tướng giỏi – chí khí anh hùng vẫn khát khao”. Giấc mộng lập công dương danh luôn là điều ám ảnh những kẻ sĩ, đại trượng phu thời phong kiến, đi liền với các tước phong công, hầu, khanh, tướng. Nhưng trong bài thơ này, con người đã được phác bằng những câu thơ có sức khái quát cao độ tinh thần dân tộc tự cường.

    Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu
    Câu khai đề của bài thơ đã tạo một tư thế rất đẹp của con người. Bản dịch vung giáo, múa giáo đều không ổn vì lập tức nó sẽ phá vỡ đi đối trọng con người – không gian. Một bên là giang sơn – sông núi quê hương rộng lớn; một bên là con người hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo trấn giữ non sông. Thế “hoành” của ngọn giáo khiến tầm vóc con người như vươn lên ngang tầm sông núi. Hình ảnh người lính vệ quốc toát lên vẻ bình thản hiên ngang. Không những thế, trong mối tương quan con người – thời gian còn làm nổi bật ấn tượng về sự bền bỉ , uy dũng của người trai thời đại. Bởi lẽ con người không chỉ đứng đó trong thoáng chốc mà đã trải qua “mấy thu” rồi. Câu thơ xác lập một tư thế con người lồng lộng giữa đất trời, ngang tầm vũ trụ. Không những thế, cả đoàn quân cùng chung tư thế ấy :
    Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu
    Câu trên là hình ảnh, câu dưới là thần thái con người. Người chiến sĩ cầm ngang ngọn giáo kia với tam quân đã tạo thành một tường thành vững chắc, im phăng phắc mà khí thế “xung thiên”. Câu thơ còn gợi về một ý thơ của Quảng Nghiêm thiền sư : “Nam nhi tự hữu xung thiên chí”. Tư thế sẵn sàng xung trận đã hình thành tứ thơ thật đẹp “tỳ hổ khí thôn ngưu”. Tuy rằng cách diễn ý chưa thoát khỏi lối ước lệ tượng trưng quen thuộc của thơ xưa nhưng để hiểu cặn kẽ cũng không phải là điều đơn giản. Theo cảm quan thẩm mỹ cổ điển, câu thơ gợi lên khí phách đoàn quân quyết chiến làm át cả sao Ngưu - vì tinh tú sáng chói trên trời. Nhưng cách hiểu “ba quân như hổ mạnh nuốt trôi trâu” đem đến cảm nhận cụ thể hơn về sức mạnh của quân đội còn non trẻ đương đầu với đội quân Nguyên – Mông hùng mạnh và thiện chiến, dường như có hàm ý ngợi ca tự hào mạnh mẽ hơn. Bởi lẽ tỳ hổ là cách so sánh mang đậm chất võ của người thống lĩnh ba quân. Trong sự liên tưởng ấy, hổ và trâu hoàn toàn không làm mất đi giá trị thẩm mỹ của câu thơ mà làm rõ hơn cho dũng khí của quân đội nhà Trần.
    Nhưng hai câu thơ đầu mới chỉ là nền để nhà thơ bộc bạch lòng mình :
    Nam nhi vị liễu công danh trái
    Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu
    Đây mới là điều canh cánh bên lòng của người dũng tướng, gắn với bổn phận của kẻ làm trai thời phong kiến . Bao đời nay, nợ công danh từng là niềm ám ảnh khôn nguôi với những người làm trai trong thời phong kiến. Phải chăng, một người anh hùng như Phạm Ngũ Lão cũng không thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn “công hầu kha nh tướng” ấy? Giả sử có như vậy cũng là lẽ thường tình, nhất là trong thời đại giá trị con người được tạo nên từ những chiến công – thời thế tạo anh hùng. Câu thơ bộc lộ niềm khao khát lớn, một điều băn khoăn chưa trả với đời của người trai làng Phù Ủng năm nào. Tất cả nỗi niềm của ông được thổ lộ trong sự đối sánh với tấm gương Vũ Hầu Gia Cát Lượng thuở xưa. Bậc mưu thần, danh sĩ nổi tiếng thời Tam Quốc, người đã xả thân vì cơ nghiệp nhà Thục, vì chúa Lưu Bị, nhắm mắt chưa yên công cuộc “ủng Lưu phản Tào”. Tất cả đã rõ, tâm niệm của Phạm Ngũ Lão nào khác nguời xưa khi ông mong muốn làm nên công nghiệp phò tá cho vua, thực hiện lý tưởng trí quân trạch dân cao cả của bề tôi trung thành tận tuỵ. Nỗi thẹn của người anh hùng toả sáng một nhân cách lớn. Băn khoăn ấy không dành riêng cho bản thân mà toàn tâm toàn ý hướng về nghiệp lớn muôn đời, vì sự bình yên của sơn hà xã tắc.
    Bài thơ là sự phản chiếu một thời đại hào hùng, khi lý tưởng trung quân ái quốc hoà nhịp trọn vẹn trong tình cảm, tâm hồn nhà thơ, thời đại “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước ra sức”.Tâm nguyện của Phạm tướng quân đã phản chiếu tâm tư của bao người trai thời Trần : ý thức rõ giá trị bản thân, nhận rõ sự gắn bó cá nhân với cộng đồng – dân tộc – đất nước. Xúc cảm hào hùng toả sáng trong hình tượng thơ, đem đến cho người đọc cái nhìn trọn vẹn về con người thời đại Đông A.


    Thiên hạ mang mang ai người tri kỷ - Lại đây cùng ta cạn một Hồ trường

    Gửi lúc 23:05, 24/08/03Về đầu trang

    tranhanam
    Người yêu thơ lãng tử.Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết em...



    ,Vietnam
    Thành viên từ 02:05, 18/06/03


    Đã được 4 người bình chọn (4.50)

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    Bài này không phải do tôi soạn, nhưng xét thấy có thể giúp các bạn học thơ văn trung đại tốt hơn nên đưa nội dung giảng này lên - theo tài liệu của Bộ GD - ĐT :
    Tóm tắt thi pháp trung đại:
    Thiên nhiên trong văn thơ trung đại
    Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ
    Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong
    Gắn đặc điểm của thời đại sản xuất lạc hậu, sống theo nền kinh tế tự nhiên nên con người chưa tách khỏi thiên nhiên như là khách thể.(...) Con người cảm thụ thiên nhiên như là chủ thể. Người ta gán cho thiên nhiên những phẩm chất của mình. Thiên nhiên chưa được thực sự khám phá với những giá trị của bản thân nó nên chưa thực sự là đối tượng hiện thực của văn học và hội hoạ ==> người ta tìm đến thiên nhiên là ngụ ý hay giao huấn đạo đức một cách không tự giác
    Từ đó dẫn đến miêu tả thiên nhiên theo một bút pháp đặc biệt : không tả hình xác của cỏ cây sông núi mà thể hiện linh hồn của chúng. Thiên nhiên trở thành bình chứa những biểu tượng tượng trưng (...) Thiên nhiên cũng có linh hồn nên cũng có sang hèn, có quân tử có tiểu nhân. Bầu bạn hay tri âm tri kỷ với nhà thơ, tất nhiên phải là thứ thiên nhiên tao nhã, sang trọng : "sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong" "mai lan cúc trúc" hay tùng cúc trúc mai" - Đối lập với thiên nhiên tao nhã là thiên nhiên tầm thường phàm tục.
    Do cảm thụ thiên nhiên như vậy nên văn thơ cổ có hai đặc tính:
    + Được cảm nhận và thể hiện một cách tinh vi như muốn khám phá cái linh hồn ẩn kín của tạo vật
    + Thiên về màu sắc đạm bạc, đường nét thanh tao, nhưng thiếu chất sống ngồn ngộn, tươi rói của thiên nhiên thực tại, phồn thực.
    Thế giới nghệ thuật phi thời gian
    Thời cổ đại và trung đại chưa quan niệm được thời gian và không gian như những phạm trù trừu tượng. Người ta cảm nhận thời gian bằng sự quan sát trực cảm sự vận động của thiên nhiên và sự sống của con người. Bước đi của thời gian được theo dõi bằng thời tiết của bốn mùa, bằng thời vụ nông tang, bằng sen tàn cúc nở, bằng oanh vàng liễu biếc hay bằng tiếng đỗ quyên v.v.... Thời gian chứa đầy thiên nhiên mang màu sắc của núi non, thảo mộc, nên trở thành đối tượng thẩm mỹ (một đề tài quan trọng của thi ca trung đại gọi là "giai thì" "mỹ cảnh": triêu cảnh, vãn cảnh, ngọ, mộ, xuân dạ, thu dạ...)
    Từ kinh nghiệm quan sát trực cảm thế giới, người ta có hai nhận thức về thời gian:
    + Quan sát cận cảnh cuộc sống hàng ngày, trong giới hạn vi mô, người ta có nhận thức về thời gian tuyến tính, một đi không trở lại
    + Quan sát từ xa thế giới vĩ mô, cảm thấy vũ trụ vận động tuần hoàn (xuân - hạ - thu - đông, ngày lại đêm, đêm lại ngày v.v....) người ta đi đến khái niệm thời gian chu kỳ, thời gian quay tròn không đi mất; động mà tĩnh, ngưng đọng, phi thòi gian (thời không gian). Và các nhà triết học giải thích bằng quy luật biến dịch tuần hoàn, âm dương tiêu trưởng


    Thiên hạ mang mang ai người tri kỷ - Lại đây cùng ta cạn một Hồ trường

    Gửi lúc 15:11, 09/12/03Về đầu trang

    truongyenthanh
    Gã nghiện net

    Thành viên quen thuộc


    ,Vietnam
    Thành viên từ 15:24, 08/08/03


    Chưa có ai bình chọn

    Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
           Than phiền

    Bình thơ:
    Tương tư, chiều của Xuân Diệu

    Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm,
    Anh nhớ em, em hỡi! anh nhớ em
    Không gì buồn bằng những buổi chiều êm
    Mà ánh sáng mờ dần cùng bóng tối
    Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối
    Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành;
    Mây theo chim về dãy núi xa xanh
    Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ
    Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ

    Thôi hết rồi, còn chi nữa đâu em!
    Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm,
    Với sương lá rụng trên đầu gần gũi
    Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi!
    (Được giận hờn nhau sung sướng bao nhiêu!)
    Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều
    Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh

    Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
    Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi!
    Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
    Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời
    Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm
    Gió bao lần, từng trận nhớ thương đi,
    Mà kỷ niệm ơi, còn gọi ta chi...

    Nhà thơ Huy Cận trong lời tựa một tập thơ tình Xuân Diệu đã cho biết Xuân Diệu "muốn làm một quyển từ điển tình yêu bằng thơ của mình". Thế giới tình yêu muôn màu sắc có bao nhiêu trạng thái, cảm xúc phong phú thì cũng bấy nhiêu phen nhà thơ say sưa khám phá và thể hiện bằng sự nhạy cảm rất riêng tư của một người "say đắm tình yêu". Tương tư là một trạng thái khó cắt nghĩa của trái tim, đã được nhà thơ diễn tả bằng sự hoà điệu của hai nguồn tình cảm: Tình yêu với cuộc sống trần thế và tình yêu lứa đôi, trong bài thơ Tương tư, chiều. Không gian chiều - sự xa cách đã làm nên những tiếng thơ gấp gáp rất đặc trưng của hồn thơ Xuân Diệu - có một chút duyên dáng và nôn nả trong lời đầu:
    Bữa nay lạnh , mặt trời đi ngủ sớm
    Anh nhớ em, em hỡi, anh nhớ em
    Chiều đến mang theo hơi lạnh cũng là lúc nhà thơ nghe được những vang động của trái tim khát yêu, khát sống của chính mình, bày tỏ khát khao tìm về hơi ấm tình người trong sự gần gũi lứa đôi. "Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ" nên nhà thơ rất hay có những dự cảm mong manh khi bộc bạch tình yêu. Thi nhân bao đời đã từng than thở: "Tương tư không biết cái làm sao - Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào", Từ buổi xa xưa của nhân loại, đã có những vần thơ diễn tả cảm giác tương tư mênh mông như nước Tương giang: "Chàng ở đầu sông Tương - Thiếp ở cuối sông Tương - Nhớ nhau chẳng thấy nhau - Cùng uống nước sông Tương" (Kinh Thi). Còn Xuân Diệu không ngần ngại mà thốt lên say đắm và mãnh liệt nỗi nhớ của mình gửi vào không gian chiều vang động, xôn xao. Thế Lữ đã từng nhận xét: "Ông có tấm lòng đắm đuối của tất cả mọi người: yêu nhan sắc, yêu non sông, yêu thơ ca, và yêu cả những buồn thương nhớ tiếc". Tình cảm không chỉ chất chứa trong lòng mà thốt ra thành tiếng; không phải thứ tiếng nói thầm thỉ và rụt rè mà là những lời làm rung động cả không gian. Nhà thơ hơn ai hết hiểu thấu nỗi cô đơn của chính mình:
    Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi!
    (Được giận hờn nhau sung sướng bao nhiêu!)
    Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều
    Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh
    Nỗi buồn là có thực. Cô đơn đã hiện hình. Nhưng đó là lúc để con người bày tỏ tình yêu vô bờ bến trong nỗi nhớ lấp đầy không gian lạnh vắng. Xuân Diệu đã bằng Tình yêu mang lại cảm giác ấm áp cho buổi chiều, thắp lên ánh sáng của trái tim để vợi bớt giá lạnh trong thời khắc "ánh sáng mờ dần cùng bóng tối". Có người không hiểu bản chất tình yêu đã có những nhận xét nặng nề về thơ tình Xuân Diệu, cho rằng đó là sản phẩm của một tâm hồn "sống gấp gáp tham lam, yêu hốt hoảng liều lĩnh". Cách hiểu ấy đem đến ngộ nhận về Xuân Diệu, về tình yêu, đáng nói hơn là nhận xét ấy lại tồn tại trong sách giáo khoa lớp 11 chẳng khác nào là sự phủ nhận giá trị thơ tình Xuân Diệu, gò tình yêu vào một thứ công thức xơ cứng mà ở đó chỉ có những nụ cười mới làm nên hạnh phúc. Giữa thái độ sống với tình yêu của Xuân Diệu và kiểu "yêu cuồng, sống gấp" mang màu sắc thực dụng hoàn toàn xa lạ với nhau về bản chất. Có yêu thực sự, con người mới thấu hiểu cảm giác tương tư; có yêu thực sự, ngay trong nỗi cô đơn con người càng cảm thấy tình yêu thắp lên ngọn lửa niềm tin quý giá biết chừng nào. Xuân Diệu đã cụ thể hoá cảm giác tương tư bằng sự hiện diện của người yêu trong một thế giới tình yêu được xây ngay trên mảnh đất trần gian:
    Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
    Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi!
    Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
    Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời
    Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm
    Tương tư là "nhớ nhau" - theo cái nghĩa mộc mạc nhất của nó. Dẫu Tú Xương đã nói: "Tương tư lọ phải là trai gái" nhưng nỗi nhớ tình yêu mới thật sự mang theo đầy đủ ý nghĩa của tương tư. Và Xuân Diệu lại đem tới một ý nghĩa mới của tương tư trong lời yêu say đắm: không chỉ là nhớ em - nhớ tiếng, nhớ hình, nhớ ảnh, nhớ đôi môi, đôi mắt - mà khi được sống trong nỗi nhớ ấy, con người còn nhớ chính mình: "Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi". Đó là lúc con người được sống trong phần người tốt đẹp nhất, với bao khát vọng sống mãnh liệt, tự tin ở chính mình, tin tưởng ở tình yêu, ở cuộc đời. Có lẽ bức thông điệp tình yêu trong Tương tư, chiều sẽ phần nào giúp người đọc hiểu hơn về Tình Yêu, hiểu hơn tấm lòng tha thiết với cuộc đời của ông hoàng thơ tình Xuân Diệu.
    Qui Nhơn, tháng 12-2003
    Trần Hà Nam

    Gửi lúc 00:53, 02/02/04Về đầu trang

     
    Các chủ đề liên quan
    Các chủ đề mới hơn

    Đề nghị các bạn tuân thủ qui định của diễn đàn khi gửi bài lên diễn đàn. Để bảo vệ diễn đàn, các bạn hãy thông báo với ban quản trị khi thấy các bài vi phạm qui định bằng cách ấn vào biểu tượng ở bên cạnh mỗi bài.

    Trang chủ |  Đăng ký |  Các diễn đàn |  TTVN Life |  Chủ đề mới |  Bài gần đây |  Tìm kiếm |   Sự kiện |  Sổ lưu niệm |  Từ điển |  Download  |   Thành viên |   Trưng cầu  |  Hướng dẫn |  Trang cá nhân |  Sửa thông tin riêng |  Danh sách bạn |  Các đánh dấu |  Ai đang làm gì?

    Trai tim Viet Nam Online (c) 2000-2003 TTVNOL Friends Group.

    Sử dụng phần mềm TTVNOnline Forum .NET 8.1, Snitz Forum 2000


    5.6683821