|
|
Tất cả các diễn đàn
|
Khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ |
|
Công nghệ Sinh học, Điện - Điện tử - Viễn thông, Giáo dục quốc phòng, Thiên văn học, Vật lý học, Toán học, Hoá học, Khoa học công nghệ và môi trường, Cơ khí - Tự động hoá, Xây dựng, Câu lạc bộ kỹ sư, Kỹ thuật quân sự nước ngoài,
|
|
|
Chủ
đề mới Trưng
cầu mới
Trả
lời
Gửi
cho bạn của bạn
In
ấn
|
|
|
BachHop English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.
 ,Vietnam Thành viên từ 00:04, 10/11/01
Đã được 26 người bình chọn (3.92)
|
Tìm thấy chất gây ung thư trong chip khoai tây Nên tăng cường ăn rau quả, giảm các đồ nướng rán. Acrylamide, hóa chất có thể gây ung thư trên động vật, đã được phát hiện với hàm lượng rất cao ở một số thực phẩm rán và nướng giàu tinh bột như ngô, gạo, khoai tây... Nồng độ acrylamide trong chip khoai tây cao hơn 2.000 lần so với giới hạn cho phép. Đó là kết luận của một nghiên cứu do các nhà khoa học tại Viện Hóa Môi trường tại Đại học Stockholm (Thụy Điển) tiến hành. Người phát ngôn của Viện cho rằng phát hiện này có thể sẽ ảnh hưởng tới nền sản xuất thực phẩm trên toàn thế giới. Acrylamide có trong nước uống và giới hạn cho phép mà Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra là dưới 1 microgam/lít. Nghiên cứu của Thụy Điển cho thấy, hàm lượng tương đương của acrylamide có thể tìm thấy trong 0,5 g chip khoai tây hoặc 2 g khoai tây rán. Acrylamide có mặt trong hầu hết các thực phẩm đã qua chế biến như bánh mỳ, bánh quy, khoai tây rán.... Chất acrylamide hình thành khi thực phẩm có nhiều tinh bột được rán hoặc nướng dưới nhiệt độ cao. Các món luộc hoặc tươi sống chứa một lượng không đáng kể chất này. Margareta Törnqvist, người dẫn đầu nhóm nghiên cứu cho biết, trung bình mỗi ngày, một người tiêu thụ khoảng vài chục microgam acrylamide. Hóa chất này đã được chứng minh là gây ung thư ở chuột, tuy nhiên 2 nghiên cứu trên người lại cho thấy, tiếp xúc với nồng độ cao của acrylamide trong công việc không làm tăng nguy cơ ung thư. Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ vẫn xếp acrylamide vào nhóm chất "có khả năng gây ung thư" vì tác động của nó lên động vật. (theo NewScientist)
BachHop
Gửi lúc 12:13, 30/04/02
|
BachHop English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.
 ,Vietnam Thành viên từ 00:04, 10/11/01
Đã được 26 người bình chọn (3.92)
|
Giác mạc nhân tạo đàn hồi - cơ hội sáng mắt cho người mù Giác mạc, phần ngoài cùng bảo vệ mắt. Đây là loại giác mạc nhân tạo dẻo đầu tiên trên thế giới, do các nhà khoa học Australia tạo ra. Nó bao gồm nhiều lớp nhựa mềm và có thể cấy ghép để thay thế giác mạc hỏng. Tiến sĩ Celia Hicks, một thành viên trong nhóm nghiên cứu tại Viện Mắt Lions ở Tây Australia cho biết, thử nghiệm trên 41 bệnh nhân thì tỷ lệ thành công là 80%. Theo bà, sản phẩm này sẽ trợ giúp rất đắc lực cho các bệnh nhân không ghép được giác mạc hiến tặng. “Thông thường, tỷ lệ đào thải giác mạc ghép là khá lớn”, bà nói. Cũng theo nhận xét của Hicks, loại giác mạc mới cải tiến hơn so với những giác mạc tổng hợp không đàn hồi hiện nay, do chúng mềm mại như giác mạc thật, dẻo dai hơn và có thể được ghép nguyên tấm, thay vì thành nhiều mẩu nhỏ như trước kia. Tuy nhiên, Hicks chưa cho biết khi nào loại vật liệu này có thể được tung ra thị trường. B.H. (theo Ananova)
BachHop
Gửi lúc 12:25, 01/05/02
|
BachHop English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.
 ,Vietnam Thành viên từ 00:04, 10/11/01
Đã được 26 người bình chọn (3.92)
|
Phương pháp mới xét nghiệm doping Muốn kiểm tra một người có dùng doping hay không, người ta thường phân tích nồng độ nandrolon trong nước tiểu. Nay, một nhà khoa học Pháp chỉ ra rằng, cách xét nghiệm trên có nhiều điểm không chính xác, đồng thời đưa ra phương pháp mới. Nhóm khoa học của Giáo sư Bruno Le Bizec, Đại học Y khoa Nantes (Pháp), đã nghiên cứu 385 xét nghiệm nước tiểu của 40 cầu thủ bóng đá và huấn luyện viên Pháp từ năm 1998 - 2000. Theo quy định của Ủy ban Olympic Quốc tế, nồng độ nandrolon trong nước tiểu của đàn ông ở mức chuẩn là 2 nanogram/mililít, và phụ nữ là 5 nanogram/mililít. Tuy nhiên, xét nghiệm của Le Bizec cho thấy, nồng độ chuẩn nandrolon trong nước tiểu đàn ông thực tế chỉ là 1,8 nanogram/mililít. Như vậy, phương pháp thử doping hiện nay có thể đã để lọt lưới một số vận động viên gian trá. Đồng thời, Le Bizec còn có một phát hiện mới về phản ứng của thận với doping. Trong một thí nghiệm với 6 người tình nguyện uống nước pha một lượng nandrolon nhẹ, nhóm khoa học đã tìm thấy một chất sulphat vô cơ đặc biệt trong các mẫu nước tiểu. Le Bizec cho rằng, người ta có thể chỉ ra tương đối chính xác kẻ dùng doping thông qua chất sulphat vô cơ này. Phương pháp xét nghiệm doping mới đã được Le Bizec trình lên Ủy ban Olympic Quốc tế. Trở ngại duy nhất của phương pháp này có lẽ là giá thành, bởi việc xác định chất sulphat vô cơ trong nước tiểu phức tạp hơn xét nghiệm nồng độ nandrolon. (theo dpa)
BachHop
Gửi lúc 07:50, 02/05/02
|
BachHop English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.
 ,Vietnam Thành viên từ 00:04, 10/11/01
Đã được 26 người bình chọn (3.92)
|
Vi khuẩn tìm mồi như thế nào? Dù không có mũi, nhưng vi khuẩn vẫn có thể đánh hơi được thức ăn nhờ các sensor tập trung ở một đầu cơ thể. Cơ cấu này cho phép chúng định hướng nguồn lương thực để di chuyển có mục đích. Lâu nay, người ta không hiểu vì sao các sensor không phân bố đều khắp cơ thể, mà lại tập trung vào một điểm nhỏ ở đầu vi khuẩn. Nay, nhóm khoa học của John Parkingson, Đại học Utah (Mỹ), đã chỉ ra rằng, việc sắp xếp dày đặc các sensor tạo ra một cái "mũi" nhạy cảm gấp nhiều lần, giúp vi khuẩn có thể "đánh hơi" thức ăn ở rất xa. Quan sát vi khuẩn E.coli, nhóm khoa học thấy chúng có các thụ quan cực kỳ nhạy cảm tập trung dày đặc ở một đầu vi khuẩn. Hệ thống này giúp nó nhận biết các loại axit amino trong thức ăn một cách nhanh chóng. Trong một thí nghiệm, các nhà khoa học đã dùng phương pháp chuyển gene để tạo ra các con vi khuẩn E.coli có thụ quan dày đặc gấp 3 lần bình thường. Kết quả là chúng có thể "đánh hơi" thức ăn trong bán kính rộng gấp 2 lần các vi khuẩn khác. Phát hiện này giúp các nhà khoa học hiểu được do đâu mà vi khuẩn có thể nhận biết và phản ứng với môi trường. Parkingson nói: "Nếu hiểu được cách thức di chuyển của vi khuẩn E.coli, chúng ta sẽ có hy vọng hiểu được sự vận động của các vi khuẩn có cấu trúc phức tạp hơn trong cơ thể người". (theo dpa)
BachHop
Gửi lúc 08:04, 03/05/02
|
BachHop English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.
 ,Vietnam Thành viên từ 00:04, 10/11/01
Đã được 26 người bình chọn (3.92)
|
Dùng virus chuyển gene sản xuất chất bán dẫn Các sợi peptide phóng to. "Thiên nhiên đã tạo ra những chất liệu tuyệt vời cho ngành kỹ nghệ như xương và ngọc trai. Và nay, nó còn đi một bước xa hơn là tạo ra vật liệu cho ngành điện tử bán dẫn", Tiến sĩ Angela Belcher, Đại học Texas ở Austin (Mỹ), thông báo về thành tựu mới của virus chuyển gene. Nhóm của Belcher trước đó đã thấy rằng ở một số virus, có tập trung các peptide (tức là các chuỗi axit amino) ở một đầu, và các peptide này có thể tác dụng với một số nguyên tố hóa học nhất định. Trong 100 triệu loại virus, các nhà khoa học đã phân tích ADN của một số con có đuôi peptide dài nhất. Sau đó người ta dùng kỹ thuật chuyển gene để tạo ra các virus có đuôi peptide dài hơn hẳn, rồi nhân bản để nuôi rộng rãi. Khi chế tạo ra một mạng lưới nano bán dẫn từ virus, các nhà khoa học đã tìm ra một loại virus mà đuôi peptide của nó phản ứng nhạy bén với sulfid thiếc. Khi cho virus vào dung dịch sulfid thiếc, thì đuôi peptide của virus và sulfid thiếc phản ứng với nhau, tại thành một mạng tinh thể với các mắt cách nhau 0,072 milimét. Mạng tinh thể này có dạng phim mỏng, dài cỡ vài centimét, thu giữ và giải phóng được các điện tử dưới tác dụng của dòng điện. Vì thế, người ta có thể dùng các tấm phim mỏng này làm vật liệu bán dẫn tinh xảo. (theo dpa)
BachHop
Gửi lúc 11:44, 04/05/02
|
BachHop English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.
 ,Vietnam Thành viên từ 00:04, 10/11/01
Đã được 26 người bình chọn (3.92)
|
Muối giúp thuốc đắng trở nên dễ nuốt hơn Nhiều khi, cho con uống thuốc là một cuộc chiến đối với cha mẹ. Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Cảm giác Hóa học Monell tại Philadelphia (Mỹ) phát hiện ra rằng, thêm muối ăn thông thường vào hỗn hợp thuốc có thể làm giảm độ đắng của rất nhiều thành phần trong đó. Bí quyết này có thể khiến trẻ em, và cả người lớn, ít nhăn nhó hơn khi uống các loại thuốc đắng.
Rất nhiều loại thuốc thông dụng chứa thành phần có vị đắng. Thuốc viên với vỏ bọc bên ngoài có thể khắc phục nhược điểm này ở người lớn nhưng lại không có tác dụng với trẻ nhỏ, vì các bé không thể nuốt nguyên cả viên thuốc. Khi gặp thuốc đắng, nhiều bé cứ mím chặt môi không chịu uống. Vì thế, tìm ra cách khiến thuốc bớt đắng là mơ ước của rất nhiều bậc phụ huynh. 26 bé gái và 18 bé trai tuổi 7-10 và mẹ của chúng đã tham gia thử nghiệm. Họ phải nếm hai loại dung dịch chứa thuốc đắng, trong đó một loại có thêm muối. Kết quả là cả người lớn và trẻ em đều nhận thấy rằng thuốc có thêm muối dễ uống hơn, và muối có vẻ đã làm giảm vị đắng của thuốc. Trẻ em có xu hướng thích dung dịch muối hơn người lớn. Theo các tác giả, thêm muối vào thuốc của trẻ có thể là một cách rất tốt để cải thiện thói quen uống thuốc của những đứa trẻ khó tính. (theo WebMD)
BachHop
Gửi lúc 09:31, 05/05/02
|
LG Thành viên Box Công nghệ sinh học
 ,Vietnam Thành viên từ 21:47, 08/04/02
Đã được 4 người bình chọn (4.00)
|
Gan nhân tạo sẽ không còn là chuyện viễn tưởng Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã có thể tạo ra những loại mô đơn giản như sụn và da, nhưng chưa có ai tạo được những nội tạng phức tạp với một hệ thống dày đặc mạch máu như gan. Mới đây, hai nhà khoa học Mỹ đã chứng minh có thể làm được điều đó. Trong một nghiên cứu gần đây, Jay Vacanti tại Bệnh viện đa khoa Massachusetts cùng với Jeffrey Borenstein tại phòng thí nghiệm Draper đã trồng thành công một chiếc tai người (cấu tạo từ sụn) ở trên lưng một con chuột. Từ thành công này, họ tiếp tục tìm ra các bước đột phá mới, tiến gần hơn tới việc tạo ra một lá gan nhân tạo. Để làm được sụn, người ta tạo ra một khung rỗng có hình dạng nhất định, chế tạo từ chất dẻo dễ phân huỷ. Sau đó, chiếc khung được nhúng vào dung dịch có chứa tế bào của người bệnh, rồi vào một dung dịch dinh dưỡng. Các tế bào sẽ nhân lên và kết dính với nhau, bám vào thành khung. Chiếc khung sau đó tan ra, để lại đoạn sụn đã sẵn sàng cấy ghép. Khi ở trong cơ thể, do sự khuyếch tán oxy và chất dinh dưỡng của chất lỏng bao quanh, đoạn sụn này sẽ sống sót được. Tuy nhiên, mô gan dày hơn nhiều so với mô sụn. Oxy và chất dinh dưỡng không thể khuyếch tán qua nhiều lớp tế bào để đi sâu vào trong, nên gan khó mà phát triển được. Nó cần có một hệ thống mạch máu ở bên trong để cung cấp chất dinh dưỡng đến tất cả các tế bào. Borenstein và Vacanti dự định sẽ copy mạng lưới mạch máu của một chiếc gan thật. Đầu tiên, họ sẽ bơm nhựa lỏng vào các mạch máu của một lá gan. Nhựa này hoá rắn lại và hoà tan các mô của gan, để lại bản sao các mạch máu. Từ bản sao này, một mô hình máy tính 3 chiều của mạch máu ra đời. Sau đó, mô hình được “cắt lát” thành hàng loạt các lớp nằm ngang. Mỗi lớp được sử dụng để tạo một khuôn silicon. Trên đó, người ta đổ vào loại chất dẻo dễ phân huỷ cũng được dùng để làm tai. Tất cả các lớp sau đó được ép với nhau dưới nhiệt độ và áp suất nhất định, tạo ra khung của một chiếc gan nhân tạo. Từ chiếc khung này, họ sẽ tạo ra hệ thống mạch máu của lá gan theo đúng kỹ thuật như đã làm chiếc tai nhân tạo. Thử nghiệm ở chuột cho thấy, các mạch máu được nuôi theo phương pháp trên hoạt động tốt mà không gặp trở ngại nào. Khó khăn tiếp theo của các nhà nghiên cứu là phải xếp đúng chủng loại tế bào vào các vị trí thích hợp trong gan. Một điều khác nữa là chưa có cách nào giữ được những bộ phận cấy ghép này vô trùng, vì vi khuẩn lây lan rất nhanh trong các dung dịch dinh dưỡng ấm. Ở Mỹ, hiện có 80 ngàn người đang đợi được thay thận, gan hoặc tim. Còn trong số 23.000 người cần thay gan mỗi năm, chỉ có 5.000 người được đáp ứng. Các nhà nghiên cứu hy vọng những nội tạng nhân tạo trong tương lai sẽ làm "nguội bớt" nhu cầu này, đồng thời loại bỏ được việc nội tạng cấy ghép bị thải loại như hiện nay. B.H. (theo Cosmi)
Gửi lúc 10:32, 06/05/02
|
BachHop English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.
 ,Vietnam Thành viên từ 00:04, 10/11/01
Đã được 26 người bình chọn (3.92)
|
Bệnh mộng du có thể mang tính di truyền Trên một nửa số người mộng du là do di truyền từ cha mẹ. Thông báo này của các nhà khoa học Thụy Sĩ trái ngược với quan điểm cũ cho rằng mộng du là bệnh tâm lý chứ không liên quan đến sinh học. Nhóm nghiên cứu của Claudio Bassetti, Đại học Zuerich (Thụy Sĩ), đã trình bày quan điểm mới về mộng du tại buổi họp thường niên của Hội Nghiên cứu Thần kinh Mỹ tại Denver, hôm qua. Các nhà khoa học đã phát hiện trên 50% người mắc bệnh mộng du có đột biến lạ trong một gene liên quan đến hệ miễn dịch, với ký hiệu HLADQB1*05. Trong khi đó, xác suất chứa đột biến này ở người thường chỉ là 25%. Ngoài ra, họ còn công bố một khảo sát tỉ mỉ, trong đó trung bình cứ 4 người mộng du thì 1 người có thân nhân cùng mắc bệnh. Tuy nhiên, vì sao ở một nửa số người mộng du khác lại không có đột biến gene là điều các nhà khoa học chưa giải thích được. (theo dpa)
BachHop
Gửi lúc 07:48, 07/05/02
|
LG Thành viên Box Công nghệ sinh học
 ,Vietnam Thành viên từ 21:47, 08/04/02
Đã được 4 người bình chọn (4.00)
|
Xác định gene làm chậm ung thư phổi Theo thông báo được công bố trong số ra tuần này của tạp chí Cancer Research (Nghiên cứu ung thư), các nhà khoa học thuộc Trung tâm Ung thư M.D. Anderson và Trung tâm y tế Tây Nam thuộc Đại học Texas, Dallas, Mỹ, đã phát hiện ra 3 gene liên quan tới ung thư phổi và khi họ thay thế những gene này ở chuột, khối u ung thư ngừng lan rộng. Dựa trên những khám phá mới này, giới nghiên cứu hy vọng tiến hành một số thí nghiệm liệu pháp gene ở bệnh nhân ung thư phổi trong vòng một năm nữa. 3 gene này không những làm chậm lại sự phát triển và lan rộng của các khối u ung thư phổi, mà còn tiêu diệt chúng. Theo Tiến sĩ Jack Roth, Chủ nhiệm chương nghiên cứu, 3 gene trên, được gọi là 01F6, NPRL2 và FUS1, đều được tìm thấy trong cùng một khu vực của nhiễm sắc thể 3: ''Nếu bạn phân tích ADN của bệnh nhân ung thư phổi, bạn sẽ thấy những mẩu nhiễm sắc thể này vắng mặt''. Dường như hút thuốc làm tổn thương khu vực nhiễm sắc thể này ngay từ đầu. Một số người dường như có nhiễm sắc thể nhạy cảm hơn những người khác. Điều này có thể giải thích nguyên nhân một vài người hút thuốc mà không bị ung thư. Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ra ung thư phổi, căn bệnh cướp đi nhiều sinh mạng nhất trên thế giới. Thay thế các gene vắng mặt (có chức năng thông tin cho các tế bào về những nhiễm sắc thể khuyết tật để những tế bào này tiêu diệt) sẽ ngăn chặn được ung thư. Roth và nhóm của ông đã tìm ra liệu pháp gene có thể làm chậm lại sự phát triển của các khối u ở chuột và trong một số trường hợp, chữa khỏi ung thư phổi ở loài này. Họ đã tiêm các khối u ung thư phổi của người vào chuột thí nghiệm thiếu hệ miễn dịch hiệu quả. Sau đó, các khối u ung thư giống ở người nhanh chóng phát triển ở chuột và chúng được sử dụng trong các nghiên cứu. Tiến sĩ Roth nói: ''Bạn có thể làm nhiều điều: nuôi khối u rồi tiêm gene vào khối u này và nó sẽ thoái hoá''. Tiêm gene vào tĩnh mạch cũng làm thu hẹp khối u ung thư phổi, cả những khối u đã di căn. Cách đây 10 năm, Tiến sĩ John Minna thuộc Đại học Texas đã xác định được vùng nhiễm săc thể nhạy cảm trên. Vùng này cũng liên quan tới nhiều ca ung thư vú: ''Chính nhờ những tiến bộ về lập bản đồ gene người, chúng tôi mới xác định được 3 gene này. Chúng tôi nghĩ sẽ chỉ tìm ra một gene và thật ngạc nhiên, có thể có tới 4 hoặc 5 gene trong khu vục này là những gene tiêu diệt khối u''. (Minh Sơn - Theo Times of India)
Gửi lúc 14:55, 07/05/02
|
LG Thành viên Box Công nghệ sinh học
 ,Vietnam Thành viên từ 21:47, 08/04/02
Đã được 4 người bình chọn (4.00)
|
Đột biến gene làm tăng gấp đôi khả năng mắc ung thư vú Các nhà khoa học đã xác định được thêm một gene bị đột biến có thể tăng nguy cơ ung thư vú ở cả nam giới và phụ nữ. Việc hiểu rõ đột biến này giúp cải thiện các chương trình xét nghiệm và qua đó các bác sỹ có thể đưa ra phương pháp hoá trị liệu phù hợp hơn với bệnh nhân 
Đột biến nằm trong gene CHEK2 có thể thấy ở 1% những phụ nữ mắc ung thư vú và tương tự với 9% ở nam giới, kết luận được rút ra từ công trình nghiên cứu trong vòng 5 năm trên 718 gia đình tại châu Âu và Bắc Mỹ. Gene CHEK2 được đánh giá có liên quan đến việc sửa chữa các hỏng hóc trên DNA. Một đột biến xảy ra ở gene này làm tăng gấp đôi khả năng phát triển ung thư vú. „Khám phá này mở ra một hướng mới trong việc tìm kiếm các gene nguy-cơ-thấp khác (low-risk) làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú của con người“, Nazneen Rahman thuộc Viện nghiên cứu ung thư tại Surrey, Anh, đã nói. Viện này là một trong những nhóm nghiên cứu Quốc tế khám phá ra gene CHEK2 có liên quan đến bệnh tật. Khoảng 10% phụ nữ châu Âu và Mỹ (1) mắc ung thư vú, thường bắt đầu từ 50 tuổi. Trong đó, 5% của tất cả trường hợp này được coi là có nguyên nhân từ các mẫn cảm về mặt di truyền do thừa hưởng từ thế hệ trước. Đột biến trên gene CHEK2 có nguy cơ ung thư vú thấp hơn các đột biến trên gene BRCA1 và BRCA2, liên quan đến 38% trường hợp ung thư vú. Tuy nhiên đột biến trên gene CHEK2 lại rất phổ biến trong cộng đồng. „Đột biến này cho thấy khả năng rằng nó đóng góp một phần quan trọng trong các trường hợp ung thư vú“, Ashok Venkitaraman, người nghiên cứu các tính chất di truyền các gene gây ung thư vú, Đại học Cambridge, Anh, đã nói. Rahman nhận định; Môi trường, lối sống và các nhân tố di truyền khác cũng đóng vai trò quan trọng trong sự mẫn cảm đối với ung thư vú. Đồng thời, đột biến trên gene CHEK2 không làm tăng thêm nguy cơ ung thư vú ở những người đã mang các đột biến trên gene BRCA1 hoặc BRCA2. Theo MEERA LOUIS, Science update, 22 April 2002 Author: Duong Quoc Chinh
Gửi lúc 15:00, 07/05/02
|
|
| |
|
|
|
Các chủ đề liên quan |
|
|
|
Đề nghị các bạn tuân thủ
qui định của diễn đàn khi gửi bài
lên diễn đàn. Để bảo vệ diễn đàn, các bạn hãy thông báo với ban quản trị khi
thấy các bài vi phạm qui định bằng cách ấn vào biểu tượng ở bên cạnh mỗi bài.
|
|
|
|
|