Bạn chưa đăng nhập,
hãy nhấn vào đây để đăng nhập

4996832 người đang duyệt site , trong đó có 5031 thành viên
 
 

Tất cả các diễn đàn
Khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ
 

Công nghệ Sinh họcĐiện - Điện tử - Viễn thôngGiáo dục quốc phòngThiên văn họcVật lý họcToán họcHoá họcKhoa học công nghệ và môi trườngCơ khí - Tự động hoáXây dựngCâu lạc bộ kỹ sưKỹ thuật quân sự nước ngoài


   Công nghệ Sinh học
 
  Bản tin công nghệ sinh học!


 Chủ đề mới  Them cuoc Binh chon moi Trưng cầu mới
Trả lời Trả lời
 Gửi cho bạn của bạn  In ấn

    2175 người đang xem chủ đề này, trong đó có 0 thành viên

<<Chủ đề trước...  Chủ đề tiếp theo>>



Trang: 
   << Đầu  |  Trước  |  Sau  |   Cuối >>
Tác giả Chủ đề này đã có 32918 lượt đọc và 216 bài trả lời  
     
( 7 người bầu )
  
LG
Thành viên Box Công nghệ sinh học



,Vietnam
Thành viên từ 21:47, 08/04/02


Đã được 4 người bình chọn (4.00)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Phân bón nhả chậm được hấp thụ 100%

Đó là phân urê-zeolite do hai nhà khoa học ở TP HCM nghiên cứu và sản xuất thành công. Nếu như các loại urê thường khi bón trực tiếp thì cây chỉ hấp thụ khoảng 60%, còn lại bị rửa trôi hoặc bốc hơi, thì loại phân mới có tỷ lệ được hấp thụ là 100%!

Phân urê-zeolite là sản phẩm của hai nhà khoa học Trần Khắc Chung và Mai Hữu Khiêm (Khoa Công nghệ Hóa học và Dầu khí, ĐH Bách khoa TPHCM). Với sự can thiệp của zeolite, phân sẽ từ từ nhả urê theo nhu cầu của cây trồng. Thử nghiệm qua 2 vụ lúa tại trại thực nghiệm lúa Long Phú (Sóc Trăng) cho thấy, ngoài ưu điểm tuyệt đối trên, loại phân mới có thời gian tác dụng kéo dài đến 50 ngày và giúp tiết kiệm được 30% lượng phân do không bị rửa trôi. Một ưu thế khác, khi giảm lượng bón đi 30% so với các loại urê thông thường thì năng suất tương đương và phẩm chất gạo có chiều hướng cao hơn so với các ô ruộng đối chứng. Ngoài ra, thời gian hấp thụ của phân kéo dài đã giảm số lần bón từ 3 xuống 2, giảm chi phí đầu tư cho nông dân.

Không chỉ thành công với loại urê - zeolite trên ruộng lúa, phân urê - vi lượng zeolite của nhóm nghiên cứu cũng đã khẳng định được ưu thế trên các loại cây màu như dưa hấu, đậu phộng. Tại Củ Chi (TPHCM), 2 đợt thí nghiệm sử dụng phân urê - vi lượng zeolite cho năng suất hạt khô và quả khô tăng 9% so với các ruộng khác. Còn trên dưa hấu tại Ô Môn (Cần Thơ), nếu bón phân urê - vi lượng zeolite thì năng suất, trọng lượng và độ đường cao hơn những ruộng dưa bón urê thông thường.

Đến nay, hai nhà khoa học đã hoàn thiện quy trình công nghệ và thiết bị sản xuất viên zeolite NaX, nguyên liệu chính để sản xuất phân urê nhả chậm và tiến tới sản xuất thương mại các loại phân bón nhả chậm.

(Theo Sài Gòn Giải Phóng)


Gửi lúc 09:45, 16/05/02Về đầu trang

LG
Thành viên Box Công nghệ sinh học



,Vietnam
Thành viên từ 21:47, 08/04/02


Đã được 4 người bình chọn (4.00)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Thiên nhiên phú cho đàn ông khả năng giữ vợ tuyệt vời


Trong những ngày rụng trứng, phụ nữ thường xuyên có mong muốn ngoại tình. Tuy nhiên, người chồng lại rất tinh ý trong chuyện này và dành sự chăm sóc đặc biệt cho vợ. Các nhà khoa học Mỹ cho rằng, khả năng đặc biệt đó giúp đàn ông duy trì được nòi giống của mình.

Kết luận trên được nhóm nghiên cứu của Steven Gangestad, Đại học New Mexico (Mỹ), công bố trên tạp chí Proceeding của Hội khoa học Anh mới đây.

Gangestad đã nghiên cứu tâm sinh lý của 50 phụ nữ trẻ bằng cách đặt ra những câu hỏi về cuộc sống vợ chồng của họ. Những phụ nữ này kể rằng, vào những ngày rụng trứng, họ có nhu cầu về sinh lý cao hơn hẳn, và thường tưởng tượng cảnh mình ngoại tình với những người đàn ông khỏe mạnh. Theo ông Gangestad, đây là một chiều hướng tự nhiên được truyền từ thời con người còn ăn lông ở lỗ, giúp giống cái chọn lựa được những gene mạnh cho con. Tuy nhiên, người chồng lại tỏ ra rất tinh ý. Trong những ngày này, họ dành nhiều thời gian cho vợ, hỏi han, chăm sóc nhiều hơn, thậm chí mua tặng vợ những món quà bất ngờ.

Theo ông Gangestad, quá trình tiến hóa đã giúp đàn ông có khả năng kỳ lạ để duy trì nòi giống của mình, ngăn không cho vợ ngoại tình trong những ngày rụng trứng. Người chồng có thể nhanh chóng nhận biết các biểu hiện khác lạ của vợ, như sắc thái, mùi hương, cách ứng xử... và ngay lập tức có sự quan tâm cần thiết. "Đa số các ông chồng làm việc đó một cách vô thức, chứ thực ra họ cũng không biết phụ nữ nghĩ gì trong những ngày này", Gangestad nói.

Minh Hy (theo dpa)

Gửi lúc 10:09, 16/05/02Về đầu trang

LG
Thành viên Box Công nghệ sinh học



,Vietnam
Thành viên từ 21:47, 08/04/02


Đã được 4 người bình chọn (4.00)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Tìm ra bí mật của màu tóc

Các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm ra loại tế bào gốc có liên quan đến quá trình tạo màu tóc. Nếu thiếu các tế bào này, tóc người sẽ bị úa, xơ hoặc có màu không đồng đều.

Lâu nay các nhà nghiên cứu đã phỏng đoán rằng có một loại tế bào gốc, đóng vai trò sinh sản ra các tế bào tạo màu cho tóc. Tuy nhiên, người ta còn thiếu bằng chứng rõ ràng về loại tế bào gốc này.

Nay, nhóm nghiên cứu của Emi Nishimura, Đại học Kyoto (Nhật Bản), đã giải được bí mật của màu tóc. Trong một thí nghiệm với chuột chuyển gene, Nishimura đã tìm thấy một số tế bào ở dưới hốc chân lông, thoả mãn đầy đủ tính năng của tế bào gốc. Quan sát cho thấy, những tế bào này tham gia tích cực vào sự hình thành và phát triển của màu tóc. Chúng tạo ra chất melaozyten và melanin, là những chất cơ bản giúp tóc có màu.

Trong một thí nghiệm với chuột chuyển gene, các nhà khoa học đã tạo ra những con chuột không có các tế bào gốc tạo màu. Kết quả là tất cả chuột sinh ra đều có lông màu đục nhờ như màu da của chúng.

Bên cạnh các tế bào gốc tạo màu còn có các tế bào khác đóng vai trò hỗ trợ. Chúng giúp quá trình tạo màu diễn ra nhanh hơn. Trong trường hợp một sợi tóc nào đó bị úa, những tế bào hỗ trợ này lập tức dồn đến, và chỉ trong vài ngày, sợi tóc sẽ lấy lại màu.

Minh Hy (theo dpa)


Gửi lúc 10:15, 16/05/02Về đầu trang

sangtr2000


,Vietnam
Thành viên từ 23:56, 27/03/02


Chưa có ai bình chọn

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

chao bach hop!
minh dang gap kho khan ve mot van de trong sinh hoc,ban co the giup minh duoc o?minh van chua ro ve co che nhuom bac(AgNO3)dung de dinh luong adn trong dien di gel polyacylamid.?ban co biet gi ve no thi co the giai thich giup minh duoc o?cam on ban truoc!ban co the mail cho minh theo dia chi:sangtr2000@yaho

sang

Gửi lúc 11:30, 16/05/02Về đầu trang

BachHop
English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.



,Vietnam
Thành viên từ 00:04, 10/11/01


Đã được 26 người bình chọn (3.92)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Phân tích ADN thực vật để tìm ra thủ phạm

Với sự giúp đỡ của kỹ thuật phân tích gene, cây cỏ cũng có thể "lên tiếng". Lần đầu tiên trong một phiên tòa ở Nauy, người ta đã so sánh ADN của một chiếc gai dính trong tất bị cáo với ADN của 42 cây tại hiện trường để minh oan cho người này.

Việc tòa án sử dụng ADN lấy từ tóc, máu hoặc tinh trùng tại hiện trường để đối chiếu với ADN của nghi can là việc phổ biến. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên người ta sử dụng ADN thực vật vào công tác điều tra tội phạm. Ông Leif Sundheim, Giám đốc Viện nghiên cứu Quốc gia Nauy, cho hay kỹ thuật phân tích ADN thực vật hoàn toàn đáng tin cậy, y hệt như ADN của người vậy.

Tại một phiên tòa gần đây ở Lillestroem, bắc Oslo, bị cáo bị truy tố về việc giết chết 3 người tại một cánh rừng. Nhưng khi phân tích ADN của 42 cây tại khu vực xảy ra vụ án, và so sánh với những chiếc gai cắm vào quần áo bị cáo cùng ngày đó, người ta không thấy có sự trùng lặp nào cả.

Sundheim nói: "ADN thực vật là bằng chứng tốt, vì mảnh vụn, gai hoặc lá của chúng dễ dính vào người. Tuy nhiên, cái khó của phân tích ADN thực vật chính là 'có quá nhiều nhân chứng', nghĩa là tại nơi xảy ra vụ án có thể có nhiều cây đan xen nhau, và để lấy hết được các mẫu ADN là việc khá kỳ công".

Minh Hy (theo dpa)



BachHop

Gửi lúc 00:04, 17/05/02Về đầu trang

BachHop
English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.



,Vietnam
Thành viên từ 00:04, 10/11/01


Đã được 26 người bình chọn (3.92)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Biến tế bào gốc của chuột thành tế bào phổi


Các nhà khoa học thuộc Đại học Hoàng gia London vừa thành công trong nghiên cứu biến tế bào gốc của chuột thành một loại tế bào phổi chuột xác định. Bước đột phá theo hướng này mở ra triển vọng tái tạo các mô phổi bị tổn thương ở người.
Họ đã sử dụng các tế bào gốc từ phôi thai chuột trong nghiên cứu trên. Các tế bào này là ''những tế bào chủ'' của cơ thể và có thể phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau. Để đảm bảo tế bào gốc biến thành các tế bào phổi cần cho việc điều trị, họ đã đặt các tế bào gốc vào một dung dịch phân tử được gọi là nhân tố tăng trưởng. Dung dịch sẽ chỉ thị các tế bào gốc trở thành loại tế bào mong muốn.

Hiện các nhà nghiên cứu dự định phát triển ''những giàn giáo'' sinh học mà các tế bào có thể phát triển trên đó, và dùng chúng để cấy ghép. Trong lúc này, cách chắc chắn duy nhất điều trị bệnh phổi giai đoạn cuối cùng là ghép phổi từ một người khác. Phương cách này giúp người được cấy ghép phổi sống thêm từ 10 tới 20 năm. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là tình trạng thiếu các bộ phận cấy ghép - phụ thuộc hoàn toàn vào người hiến - và nguy cơ đào thải cao sau cấy ghép.

Mặc dù nghiên cứu này chắc chắn chưa thể ứng dụng trên người trong vòng 10 năm tới, song các nhà khoa học tin tưởng việc biến tế bào gốc thành tế bào phổi có thể giải quyết được cả 2 vấn đề trên. Tiến sĩ Anne Bishop, thuộc Bệnh viện Chelsea and Westminster nói: ''Nghiên cứu này có thể khôi phục những vùng phổi bị tổn thương do bệnh bằng cách cấy ghép các tế bào phổi chức năng. Không giống việc cấy ghép nội tạng từ người cho, các tế bào có thể phát triển theo cách thức mà cơ thể không đào thải chúng''.

Cũng theo bà Anne Bishop, phương pháp này cũng có thể được áp dụng cho bệnh nhân xơ hoá u nang. Một ngày nào đó, khám phá này có thể mang lại nhiều lợi ích cho những bệnh nhân mắc bệnh liên quan tới phổi, chẳng hạn như chứng khó thở ở trẻ sơ sinh. Cụ thể là, bác sĩ có thể lấy một số tế bào từ da trẻ sơ sinh và sử dụng dung dịch phân tử để biến chúng thành các tế bào phổi. Những tế bào này sẽ được lưu giữ cho tới khi chính những em bé này cần tới.

Giáo sư Julia Polak, Giám đốc Trung tâm nói: ''Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên thuộc loại này được tiến hành và đem lại cho chúng ta khả năng xây dựng mô phổi''.

(Minh Sơn - Theo BBC)



BachHop

Gửi lúc 00:55, 18/05/02Về đầu trang

BachHop
English & REFC's Member.Một người muốn xây dựng TTVNOnline tốt đẹp hơn.



,Vietnam
Thành viên từ 00:04, 10/11/01


Đã được 26 người bình chọn (3.92)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Lãng mạn là sản phẩm của nhu cầu sinh lý

Sự lãng mạn trong tình yêu - cú điện thoại bất chợt, hộp chocolate gửi bất ngờ hay bó hoa "chúc một ngày tốt lành" đều liên quan đến sinh học thuần tuý hơn là tiếng gọi thôi thúc của thần tình yêu. Đây là kết luận của giáo sư tâm lý Steven Gangestad thuộc ĐH New Mexico (Mỹ).

Không ngẫu nhiên mà hành động lãng mạn của phái nam thường xảy ra vào "kỳ" của phái nữ. Trong một nghiên cứu, 51 cô gái tuổi trung bình 19,6 được yêu cầu điền vào bảng câu hỏi liên quan đến cảm giác của họ về tình yêu hoặc sự lãng mạn, vào trước và sau kỳ rụng trứng. Gangestad nhận thấy trong khoảng 4 ngày trước kỳ rụng trứng, phụ nữ có khuynh hướng quan tâm đến tình dục và ăn mặc "mát mẻ" hơn, cùng nhiều cử chỉ lườm nguýt khó hiểu. Trả lời câu hỏi khi nào bạn tình hay đồng nghiệp có hành vi lãng mạn với mình, 51 đối tượng đều đều trả lời điều đó thường xảy ra vào cùng thời gian với "kỳ" của họ. Gangestad giải thích rằng lãng mạn là sự tiến hoá trong lịch sử quan hệ giới tính nhằm bảo đảm cho sự thành công của quá trình sinh sản và tồn tại.

(Theo Tuổi Trẻ)



BachHop

Gửi lúc 00:10, 20/05/02Về đầu trang

weirdhobbit
Con rùa của Box Công nghệ sinh học, Member of SG English club



,Vietnam
Thành viên từ 06:11, 19/05/02


Đã được 3 người bình chọn (3.67)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Một mạch DNA, một động cơ
Một giáo sư hóa học của ÐH Florida đã tạo ra một “nanomotor” từ một mạch DNA. Theo Weihong Tan, nhà nghiên cứu chính và tác giả chính của một bài viết về động cơ này trên tờ Nano Letters, động cơ này nhỏ đến nỗi hằng trăm ngàn cái có thể nằm gọn trong một đầu kim và chúng cuộn lại và duỗi ra như mộ con sâu đo. Mặc dù không phải là động cơ DNA đầu tiên, động cơ của Tan là cái đầu tiên được tạo thành từ một mạch đơn DNA. Ðiều này giúp nó tiến gần hơn đến những ứng dụng trong đời sống khi mà lĩnh cực bionanotechnology đang phát triển mạnh mẽ. Một ứng dụng đầu tiên của DNA motor đã bắt đầu thành hình là ứng dụng dưới dạng một biosensor (dụng cụ cảm ứng sinh học). Dụng cụ này được các nhà nghiên cứu dùng để phát hiện chỉ vài phân tử DNA có chứa một trình tự đặc biệt và vì thế, có thể dùng để chẩn đoán bệnh, nếu trình tự đó liên quan đến một gene bệnh hay gene ung thư. Ngoài ra, nanomotor sẽ đóng một vai trò tích cực trong điều trị lâm sàng. Ví dụ, các thiết bị siêu nhỏ sẽ có thể được bơm vào cơ thể cùng với thuốc diệt tế bào ung thư. Khi thuốc đến vị trí khối u, các nanomotor sẽ gắn thuốc vào màng của tế bào ung thư, và quan trọng hơn nữa là với độ chính xác cao của các motor, thuốc sẽ không tấn công vào các tế bào lành, giảm thiểu các tác dụng phụ. Nhiều nhà khoa học còn tin rằng nanomotor còn có thể được dùng trong các “nhà máy trong ống nghiệm” (test-tube manufacture). Trong khi các nhà máy khác lắp ráp sản phẩm từ những bộ phận sẵn có thì nhà máy trong ống nghiệm sẽ lắp ráp các cấu trúc từ những phân tử và nguyên tử nhỏ nhất.
Vào năm 2000, cán nhà khoa học Mỹ và Anh đã công bố một động cơ hình nhíp dùng DNA. Ðộng cơ gồm 4 mảnh DNA: hai dùng để tạo thành dạng nhíp, 1 dùng đóng nhíp và 1 dùng mở nhíp. Tuy nhiên, theo Tan thì vấn đế với các động cơ nhiều mạch DNA là nó rất phức tạp để kiểm soát đồng thời nó cũng cần nhiều năng lượng hơn, do đó sẽ giảm hiệu quả của động cơ. Tan cho biết bước tiếp theo trong nghiên cứu của ông là sẽ điều khiển một động cơ di chuyển một phân tử nhỏ từ chỗ này đến chỗ khác, để chứng tỏ tính hữu dụng của nó.

Xem bài gốc: http://www.napa.ufl.edu/2002news/nanomotor.htm

Everything has two sides or more.

Gửi lúc 23:24, 20/05/02Về đầu trang

weirdhobbit
Con rùa của Box Công nghệ sinh học, Member of SG English club



,Vietnam
Thành viên từ 06:11, 19/05/02


Đã được 3 người bình chọn (3.67)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Dành cho những bạn thích về cơ chế sinh học phân tử

Ảnh 3 chiều làm sáng tỏ những bước đầu tiên của quá trính phiên mã.
Các nhà khoa học tại ÐH Rockefeller đã chụp được những bức ảnh 3 chiều đầu tiên về phức hợp khởi đầu phiên mã ở vi khuẩn. Các bức ảnh này được đăng trên tạp chí Science ngày 17/5 rồi.
Phức hợp khởi đầu phiên mã gồm enzyme chính là RNA polymerase (RNAP), có nhiệm vụ tổng hợp RNA từ mạch khuôn DNA, nhưng RNAP lại không thể tự khởi động quá trình phiên mã mà phải nhờ đến một loại protein khác là tiểu đơn vị sigma. Tiểu đơn vị này gắn với RNAP tạo thành một holoenzyme. Chức năng của tiểu đơn vị sigma là nhận ra vị trí khởi đầu phiên mã trên DNA, promoter, và sau đó tách mạch đôi DNA để dùng một trong hai mạch đơn làm khuôn cho RNAP.
Các nhà khoa học ở Rockefeller, đứng đầu là TS. Seth Darst, đã nghiên cứu RNAP từ vi khuẩn Thermus aquaticus, thuộc nhóm vi khuẩn chịu nhiệt. Họ đã dủng kĩ thuật chụp ảnh tinh thể tia X (X-ray crystallography) để giải đoán cấu trúc của holoenzyme trên. Họ cũng dùng kĩ thuật này để “nhìn thấy” cấu trúc của holoenzyme khi nó đang gắn vào một đoạn DNA có chứa promoter.
Kĩ thuật tinh thể tia X thông thường có thể chụp được với độ phân giải lên đến vài angstrom, nhưng ông Darst cho biết những tinh thể mà nhóm của ông dùng không tán xạ tia X đủ mạnh để tạo nên các bức ảnh với độ phân giải cao như thế, do đó, họ đã phải dùng một phương pháp kết hợp để giải đoán cấu trúc. Họ dùng những bức ảnh phân giải cao của RNAP và tiểu đơn vị sigma kết hợp với bức ảnh độ phân giải thấp của holoenzyme để từ đó suy ra cầu trúc của holoenzyme. Và do cấu trúc của DNA đã được biết rõ, họ dùng kiến thức này để giải đoán cấu trúc của holoenzyme khi gắn với DNA.
Theo nghiên cứu gần đây của phòng thí nghiệm của Darst, đăng trên Molecular Cell cho biết tiểu đơn vị sigma gồm 4 domain nối với nhau bằng các đoạn amino acid ngắn gọi là các linker. Với cấu trúc của holoenzyme vừa giải đoán được, các nhà nghiên cứu cho biết các domain của tiểu đơn vị sigma trải rộng và gắn vào một mặt của RNAP, nhờ đó sigma nằm ở vị trí thích hợp để gắn vào DNA.
Một trong những khám phá thú vị nhất, theo Darst, là vị trí một trong số các linker. Linker này chứa 33 amino acid, dài hơn nhiều so với các linker kia. Linker này đi vào nằm sâu trong polymerase về phía trung tâm hoạt động (active site) của nó rồi đi ngược ra, tạo nên một tương tác protein-protein rất khác thường.
Ông cho biết: “Các domain của sigma đều nằm trên bề mặt của RNAP, chỉ trừ có linker đặc biệt này là nằm sâu bên trong polymerase, gần trung tâm hoạt động. Ðể có được cấu hình như thề dòi hỏi rất nhiều thay đổi về cấu trúc để đưa linker vào bên trong.”
Ở vi khuẩn, bước đầu tiên trong phiên mã là gắn RNAP vào một nucleotide của DNA. Các nhà nghiên cứu cho rằng linker này có tham gia vào việc gắn lên nucleotide khởi đầu này, và một khi RNAP bắt đầu tổng hợp RNA, tiểu đơn vị sigma không cần thiết nữa.
Sự biểu hiện gene được điều hòa ở nhiều mức độ, tuy nhiên, có lẽ mức độ điều hòa ở điểm khởi đầu phiên mã này là chủ yếu. Theo Darst, đoạn linker nằm sâu gần trung tâmhoạt động có thể giữ vai trò trong việc báo cho RNA polymerase khi nào bắt đầu tổng hợp RNA.
Darst cho biết: “Ðoạn linker gắn bên trong polymerase và trên thực tế đã cản đường của RNA. Khi sự phiên mã RNA bắt đầu vào giai đoạn kéo dài, RNA phải đẩy đoạn linker này ra khỏi kênh bên trong polymerase. Ðoạn linker không được đẩy ra hoàn toàn cho tới khi RNA dài khoảng 12 nucleotide.”
Các nhà khoa học đã biết được từ các thí nghiệm sinh hóa rằng có một giai đoạn chuyển tiếp diễn ra khi RNA dài đến khoảng 12 nucleotide: phức hợp trở nên ổn định hơn và giai đoạn kéo dài (elongation) bắt đầu.
“Chúng tôi nghĩ rằng tín hiệu để đi vào giai đoạn kéo dài là khi RNA trở nên dài đủ để lấp đầy kênh. Nó sẽ đẩy đoạn linker ra, và sau đó tiểu đơn vị sigma bắt đầu rời đi.”
Cấu trúc này cũng lý giải được một hiện tượng kì lạ được gọi là sự khởi đầu thất bại (abortive initiation), trong đó sự phiên mã bắt đầu rồi kết thúc. Polymerase vẫn cứ nằm ở promoter, tiếp tục tổng hợp các đoạn RNA ngắn, các đoạn này sau đó rơi ra ngoài, và sau đó quá trình này lại bắt đầu lại. Quá trình này có thể lặp lại hằng trăm lần trước khi có thể tiếp tục và tổng hợp được đoạn RNA dài .
Từ các thông tin về cấu trúc và những thí nghiệm khác, các nhà nghiên cứu giờ đây đã biết được sự khởi đầu thất bại diễn ra vì có sự cạnh tranh giữa RNA và đoạn linker. Nếu đoạn linker thắng, RNA sẽ rơi ra ngoài và thế là sự phiên mã lại bắt đầu lại từ đầu.
“Ðôi khi RNA có thể đẩy đoạn peptide ra, và một khi nó đã dài đủ để đẩy toàn bộ đoạn peptide ra, vậy là sẽ không có sự bắt đầu thất bại nữa.”
Holoenzyme nhận diện chính xác trình tự của đoạn promoter và tạo thành một cấu trúc gọi là phức hợp đóng – đóng là vì khi này đoàn DNA chưa bị tách mạch. Một khi trình tự này đã được nhận diện, holoenzyme sẽ trải qua hàng loạt các bước và cuối cùng tạo thành phức hợp mở, khi DNA thực sự đã được tách mạch.
“Từ cấu trúc này và những cái khác, chúng tôi đã tạo được mô hình của phức hợp đóng và phức hợp mở, giống như phần mở đầu và kết thúc,” Darst nói, “điều mà chúng tôi thực sự quan tâm hiện nay là những bước ở giữa.”
“Chúng tôi nghĩ rằng những mô hình này đã tốt rồi, nhưng chúng không cung cấp đủ thông tin để biết làm sao nó có thể chuyển từ A sang B.”
Hiểu biết nhiều hơn về sự phiên mã ở vi khuẩn có thể mở ra những mục tiêu mới cho các dược phẩm trị các bệnh lây lan do vi khuẩn, đặc biệt là những con đang kháng lại các loại kháng sinh hiện thời. Nghiên cứu trước đây cũng của phòng thí nghiệm của Darst cho thấy rifampicin, một trong hai loại thuốc hiệu quả nhất trị lao, đã giết vi trùng lao bằng cách chặn RNA polymerase của vi khuẩn.

Xem bài gốc: http://www.eurekalert.org/pub_releases/2002-05/ru-tis051502.php


Everything has two sides or more.

Gửi lúc 23:33, 20/05/02Về đầu trang

Chic
Thành viên của TTVNOnline.



,Vietnam
Thành viên từ 23:57, 19/01/02


Đã được 12 người bình chọn (4.00)

Gửi tin nhắn Gửi thư  Thăm trang nhà của thành viên này
       Than phiền

Các bạn chịu khó sưu tầm nhiều cái hay quá nhỉ, vào topic này học được khối điều. Cảm ơn các bạn.


Chic

Gửi lúc 00:39, 21/05/02Về đầu trang

 
Các chủ đề liên quan

Đề nghị các bạn tuân thủ qui định của diễn đàn khi gửi bài lên diễn đàn. Để bảo vệ diễn đàn, các bạn hãy thông báo với ban quản trị khi thấy các bài vi phạm qui định bằng cách ấn vào biểu tượng ở bên cạnh mỗi bài.

Trang chủ |  Đăng ký |  Các diễn đàn |  TTVN Life |  Chủ đề mới |  Bài gần đây |  Tìm kiếm |   Sự kiện |  Sổ lưu niệm |  Từ điển |  Download  |   Thành viên |   Trưng cầu  |  Hướng dẫn |  Trang cá nhân |  Sửa thông tin riêng |  Danh sách bạn |  Các đánh dấu |  Ai đang làm gì?

Trai tim Viet Nam Online (c) 2000-2003 TTVNOL Friends Group.

Sử dụng phần mềm TTVNOnline Forum .NET 8.1, Snitz Forum 2000


9.46875