|
|
Tất cả các diễn đàn
|
Khoa học xã hội, nhân văn và nghệ thuật |
|
Khoa học Pháp lý, Thi ca, Kiếm hiệp cốc, Văn học, Dancing, Điện ảnh (MFC), Cùng đọc và suy ngẫm, Học thuật, Mỹ Thuật, Kiến Trúc, Báo chí - Truyền thông, LS_VH, Tiếng Việt, Tác phẩm Văn học, Nghệ thuật Nhiếp ảnh, Nghệ Thuật Thư Pháp, Lịch sử Văn hoá, Tâm Lý Học,
|
|
|
Chủ
đề mới Trưng
cầu mới
Trả
lời
Gửi
cho bạn của bạn
In
ấn
|
|
|
| Trang: |
|
|
|
<< Đầu
|
| Trước
|
| Sau
|
| Cuối >>
|
|
|
Raul Madridista - Sport minister of RMFC
 ,Vietnam Thành viên từ Trước 24/2/2001
Đã được 36 người bình chọn (3.89)
|
Trích từ bài của ngudabi1 viết lúc 19:13 ngày 21/03/2004:
Mong các bác giúp hộ "bệnh" của em như này:Tính đến năm 2004, em đã làm việc được 7 năm cho một doanh nghiệp nhà nước, đóng bảo hiểm XH được 6 năm -Tháng 8, 2003 em có ký hợp đồng lao đồng có thời hạn 3 năm. Nghĩa là HĐLĐ của em với xí nghiệp sẽ kết thúc vào tháng 8, 2006. -Tháng 1, 2004 em và sếp em có bất đồng. em tự ý bỏ việc và chuẩn bị chuyển sang nơi khác. Vậy bây giờ em có được thanh toán BHXH không? Mong các bác trả lời giúp? Cảm ơn trước
Hic, BHXH thì phải đến khi về hưu bạn mới dc thanh toán chứ. Còn nếu bạn chuyển sang làm cho một DN khác thì bạn vẫn dc quyền bảo lưu thời gian đóng BHXH cho DN cũ (bất kể là chấm dứt HĐLĐ đúng hay trái PL). Có lẽ BHXH bạn muốn hỏi ở đây là trợ cấp thôi việc. Cái này thì còn tuỳ thuộc xem bạn chấm dứt HĐ LĐ có đúng hay không. Nếu bạn đơn phương chấm dứt HĐ LĐ trái PL thì bạn ko dc trợ cấp thôi việc. Bạn nên xem thêm Bộ luật LĐ, Nghị định 44 và Thông tư 21 để viết thêm về các trường hợp chấm dứt HĐ LĐ. Hoặc bạn có thể viết thư hỏi Vụ LĐ - Việc làm - Bộ LĐTBXH để dc giải đáp cụ thể, Thân, Raul Gửi lúc 10:42, 25/03/04
|
No-fear Kẻ độc hành - không ai có thể tha thứ, cũng không thể tự tha thứ cho chính mình Một người gắn bó và đang xây dựng TTVNOnline ngày một tốt đẹp hơn
 ,Vietnam Thành viên từ 12:30, 30/11/01
Đã được 78 người bình chọn (3.46)
|
Trích từ bài của MagicEyesinParadise viết lúc 19:16 ngày 02/04/2004:
Xin mọi người giúp tôi tìm tất cả các quy định của Pháp luật Việt nam hiện hành để giúp tôi hoàn thành thủ tục thành lập một Doanh nghiệp (Công ty TNHH). Đây là lần đầu tiên tôi tư vấn để thành lập một doanh nghiệp nên rất sợ sẽ bỏ sót nhiều vấn đề, nhiều quy định vì tôi có trong tay quá ít các quy đinh cụ thể trong thủ tục thành lập DN, vậy mong các bạn giúp tôi nhé ! Tôi sẽ rất cảm ơn và sẽ hậu tạ các bạn ! Các bạn có thể liên hệ với tôi qua email: nnsy279@yahoo.com hoặc SĐT: 84912473481. Rất mong sự giúp đỡ của các bạn !
Tưởng bạn hiền làm giảng viên trường ĐH Cảnh sát cơ mà? Sao lại tư vấn thành lập doanh nghiệp là sao vậy? Sao ít ghé đây quá vậy? Hic, toàn thấy khi nào cần mới vào đây bốt bài... chán ghê là chán.... Về thủ tục thành lập doanh nghiệp TNHH theo các bước như sau: Thu thập các thông tin sau đây: - Xác định xem công ty TNHH đó do mấy thành viên góp vốn? (công ty TNHH 2 thành viên trở lên hay 1 thành viên?) - Tên dự định là gì? Tên tiếng việt, tiếng anh và tên viết tắt (dự trù vài tình huống vào vì có thể trùng tên) - Ngành nghề kinh doanh của công ty là gì? (lưu ý xem có phải ngành nghề có điều kiện ko?) - Trụ sở định đặt ở đâu? Điện thoại, fax ra sao? - Tổng vốn điều lệ là bao nhiêu? Ai đóng góp? Họ tên người đóng góp, hộ khẩu ở đâu, thường trú ở đâu? Nam hay nữ, quốc tịch ra sao? Số CMND do CA nào cấp, ngày tháng cấp? Mỗi người đóng góp bao nhiêu tiền vào vốn điều lệ? - Ai làm giám đốc, cơ cấu hoạt động như thế nào? ========= Trên cơ sở những thông tin thu được ở trên. Làm Đơn đăng ký kinh doanh Cty TNHH (lấy chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty) gửi phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch đầu tư địa phương. Làm bảng kê khai góp vốn, danh sách thành viên kèm theo. Làm điều lệ công ty TNHH (điều lệ phải được ký từng trang - do các thành viên góp vốn ký vào) ========== Cầm cả bộ, 3 loại giấy ấy kẹp vào hồ sơ đó lên phòng đăng ký kinh doanh sở KHĐT địa phương - nộp. Chỉnh sửa điều lệ (chủ yếu là ngành nghề kinh doanh và thiếu sót trong hồ sơ) cái này phải có sự nhiệt tình của chuyên viên phòng Đăng ký kinh doanh -họ nhiệt tình hay ko là tuỳ vào bạn thôi....cư xử thế nào chắc tự biết, nhỉ... ========== Trong trường hợp bạn ko có giấy giới thiệu của cơ quan đi thực hiện thủ tục thay chủ doanh nghiệp, bạn phải có giấy uỷ quyền của ông giám đốc tương lai. Nếu có giấy giới thiệu của cơ quan là đi tư vấn thì ko cần phải uỷ quyền nữa.... ========== Sau khi có đăng ký kinh doanh, phải tiến hành thủ tục làm con dấu và đăng ký mã số thuế.... đăng bố cáo thành lập doanh nghiệp trên 3 kỳ báo liên tiếp. ========== Cậu nên tham khảo văn bản Thông tư Hướng dẫn trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanhMà thôi, tớ cũng đang đói đây, cậu pass cái hợp đồng ấy sang đây, tớ kiếm ít tiền để mua vé vào Nam chơi cái... còn không liên hệ với tớ 0904269797 - gặp tớ, tớ cũng cấp cho cậu các mẫu hợp đồng tư vấn, điều lệ công ty, bảng danh sách thành viên góp vốn, đơn đăng ký kinh doanh (phục vụ cho bước đầu gain Đăng ký kinh doanh) - tớ chỉ xin bữa caphe và thuốc lá. Okie???
Gửi lúc 22:33, 02/04/04
|
No-fear Kẻ độc hành - không ai có thể tha thứ, cũng không thể tự tha thứ cho chính mình Một người gắn bó và đang xây dựng TTVNOnline ngày một tốt đẹp hơn
 ,Vietnam Thành viên từ 12:30, 30/11/01
Đã được 78 người bình chọn (3.46)
|
Bạn legislation hỏi bên topic xin văn bản tài liệu như sau: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa các chủ thể tham gia kí kết như thế nào? Đề nghị trả lời giúp tôi gấp gấp! Tôi xin trả lời nhé: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 25.09.1989 đã đưa ra định nghĩa: "Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình" (điều 1) Điều 2 của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định như: Hợp đồng kinh tế được ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh. Phân tích điều 1, điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 ta thấy: - Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận giữa các bên ký kết; - Sự thỏa thuận này được thực hiện dưới hình thức văn bản; - Chủ thể của hợp đồng là pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh, trong đó ít nhất một bên tham gia quan hệ hợp đồng phải là pháp nhân; - Các bên ký kết hợp đồng kinh tế nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của mình. Để chứng minh mối quan hệ bình đẳng giữa các chủ thể tham gia kí kết hợp đồng – cần phải xác định rõ đối tượng nào được coi là chủ thể có thể kí kết hợp đồng kinh tế? Chủ thể hợp đồng kinh tế là các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế bình đẳng, tự nguyện thỏa thuận để xác định những quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Điều 1 Nghị định 17 - H ĐBT ngày 16-1-1990 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì chủ thể hợp đồng kinh tế là pháp nhân và cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, trong đó ít nhất phải có một bên là pháp nhân. Pháp nhân là một tổ chức có đủ các điều kiện theo điều 94 Bộ luật dân sự ngày 28.10.1995: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; - Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; - Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó. - Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là người đã được cấp giấy phép kinh doanh hoặc được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng qui định về đăng ký kinh doanh (đó là cá nhân kinh doanh nhỏ dưới vốn pháp định và doanh nghiệp tư nhân). Theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì chủ thể của hợp đồng kinh tế một bên phải là pháp nhân, còn bên kia có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh. Tất cả các chủ thể khi ký kết hợp đồng kinh tế phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Ngoài các chủ thể kể trên ra, theo quy định của các điều 42, 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế những người làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể, tổ chức và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, khi ký kết hợp đồng với pháp nhân Việt Nam cũng được áp dụng các quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Trường hợp một bên là người làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân thì người ký hợp đồng kinh tế phải là người trực tiếp thực hiện công việc trong hợp đồng. Nếu có nhiều người cùng làm thì người ký vào bản hợp đồng kinh tế phải do những người cùng làm cử ra bằng văn bản trong đó có chữ ký của tất c những người đó và phải đính kèm bản hợp đồng kinh tế. Trường hợp một bên là hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể thì đại diện phải là chủ hộ. Khi một bên là tổ chức nước ngoài tại Việt Nam thì đại diện tổ chức đó phải được ủy nhiệm bằng văn bản, nếu là cá nhân nước ngoài tại Việt Nam thì bản thân họ phải là người ký kết các hợp đồng kinh tế. Khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, mỗi bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ cần một đại diện để ký vào hợp đồng kinh tế (khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế). Nếu là pháp nhân thì đại diện phải là đại diện hợp pháp của pháp nhân đó. Đại diện hợp pháp của pháp nhân là người được bổ nhiệm hay được bầu vào chứ vụ đứng đầu pháp nhân đó và đang giữ chức vụ đó. Người đại diện hợp pháp của pháp nhân chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế trong phạm vi thẩm quyền đại diện do pháp luật hoặc điều lệ pháp nhân quy định. Như vậy người đứng đầu pháp nhân là người đại diện đương nhiên theo pháp luật của pháp nhân, người phó không phải là người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Người đại diện hợp pháp của pháp nhân và các cá nhân có đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền cho người khác thay mình ký kết hợp đồng kinh tế, làm đại diện trong ký kết, trong quá trình thực hiện hợp đồng, cũng như trong tố tụng khi có tranh chấp hợp đồng. Người được ủy quyền chính là người đại diện theo ủy quyền. Người dại diện theo ủy quyền chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế trong phạm vi ủy quyền. Nếu người đại diện theo ủy quyền ký kết hợp đồng kinh tế vượt quá phạm vi được ủy quyền thì phần vượt quá phạm vi ủy quyền bị coi là vô hiệu. Việc ủy quyền phải được làm bằng văn bản, trong đó ghi rõ họ tên, chức vụ, nơi làm việc, giấy chứng minh của người được ủy quyền, phạm vi ủy quyền, thời hạn ủy quyền. Người ủy quyền phải chịu trách nhiệm về hành vi của người được ủy quyền như hành vi của chính mình. Trong trường hợp ủy quyền thường xuyên, người ủy quyền làm văn bản ủy quyền thường xuyên, chẳng hạn ủy quyền cho cấp phó của mình, cho người quản lý đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân không đầy đủ. Cứ mỗi lần giao dịch trong quan hệ hợp đồng kinh tế,người được ủy quyền phải xuất trình văn bản được ủy quyền thường xuyên này. Và người ủy quyền vẫn chịu trách nhiệm về hành vi của người được ủy quyền giống như trường hợp ủy quyền không thường xuyên. Nếu là các cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thì người ký hợp đồng phải là người đứng tên xin giấy phép kinh doanh, được cấp giấy phép kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong tất cả các trường hợp, không bắt buộc kế toán trưởng phải cùng ký vào bản hợp đồng (đây là điểm khác với Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế được ban hành kèm theo Nghị định 54 - CP ngày 10-3-1975). Cần lưu tâm tới các đặc trưng của hợp đồng kinh tế (tương đồng với hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại... ở chỗ chúng đều phản ánh sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. - Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối mà là sự tự do trong giới hạn pháp luật. Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng pháp luật, đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng. Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng. - Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể suy luận ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là hợp đồng những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên. Chẳng hạn, trong hợp đồng mua bán đó là các quyền và nghĩa vụ về giao tài sản, chuyển quyền sở hữu tài sản và nhận tiền của bên bán và các quyền, nghĩa vụ về nhận tài sản, trả tiền của bên mua.
Gửi lúc 23:32, 02/04/04
|
No-fear Kẻ độc hành - không ai có thể tha thứ, cũng không thể tự tha thứ cho chính mình Một người gắn bó và đang xây dựng TTVNOnline ngày một tốt đẹp hơn
 ,Vietnam Thành viên từ 12:30, 30/11/01
Đã được 78 người bình chọn (3.46)
|
- ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi để xác lập hợp đồng. Các bên giao kết hợp đồng thông qua người đại diện của mình. Đó là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Người đại diện chỉ được giao kết hợp đồng trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Phạm vi thẩm quyền đại diện được quy định bởi pháp luật, điều lệ của tổ chức kinh tế hoặc bởi văn bản ủy quyền. Các hợp đồng do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với tổ chức và cá nhân đại diện (trừ trường hợp được người đại diện chấp thuận). Một khi hợp đồng được hình thành một cách hợp pháp thì nó có hiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết. Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng. Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng đó có hiệu lực ràng buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu. Hợp đồng được xác lập một cách hợp pháp có hiệu lực ràng buộc cả với các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, tòa án hoặc trọng tài phải căn cứ vào các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng để ra bản án hoặc quyết định công bằng, đúng đắn. Đến đây cần lưu tâm tới các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế trong pháp lệnh quy định như sau: Điều 3 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: "Hợp đồng kinh tế được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật". Đây chính là các nguyên tắc của hợp đồng kinh tế, tức là các tư tưởng chỉ đạo có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế. Nguyên tắc tự nguyện Nội dung chính của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: việc ký kết hợp đồng kinh tế phải dựa trên c sở tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng, bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào đều không được áp đặt ý chí của mình cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Khi xác lập quan hệ hợp đồng các chủ thể được tự do bày tỏ, thể hiện ý chí và thống nhất ý chí nhằm đạt được một mục đích xác định. Các chủ thể có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm ký kết và bàn bạc, thỏa thuận nội dung hợp đồng. Điều 4 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định rõ "Ký kết hợp đồng kinh tế là quyền của đơn vị kinh tế". Đây là một quy định thể hiện sự đổi mới phưng pháp quản lý của nhà nước, từ chỗ ký kết hợp đồng kinh tế là nghĩa vụ bắt buộc thì nay là quyền của các chủ thể. Nguyên tắc tự nguyện được thể hiện trong 15 trên 45 điều của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, đó là các điều 4,5,7,11,13,14,15,16,17,18,19,20,21,23,26. Đương nhiên các bên khi sử dụng quyền này phải có các điều kiện khác đi liền với nó. Đó là các điều kiện mà pháp luật hiện hành về hợp đồng kinh tế đã quy định: - Không được phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật. - Đối với các tổ chức kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực thuộc độc quyền của nhà nước thì không được lợi dụng quyền ký kết hợp đồng để đòi hỏi những điều kiện bất bình đẳng đối với bạn hàng. - Quyền ký kết hợp đồng kinh tế của các tổ chức kinh tế bao gồm cả quyền được từ chối mọi sự áp đặt của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong việc ký kết hợp đồng kinh tế. Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi Trong quan hệ kinh tế thì lợi ích chính là động lực thúc đẩy hành động của các chủ thể. Theo nguyên tắc này, các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng phải bảo đảm nội dung của cácơ quan hệ đó thể hiện được sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ, bảo đảm lợi ích kinh tế cho các bên. Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức kinh tế dù thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý khi ký kết hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Không thể có một hợp đồng nào chỉ mang lại lợi ích cho một bên hoặc một bên chỉ có quyền, còn bên kia chỉ có nghĩa vụ. Khi hợp đồng kinh tế đã được xác lập thì phải bảo đảm quyền và nghĩa vụ tương xứng giữa các chủ thể, có thực hiện được nghĩa vụ mới được hưởng quyền, nếu vi phạm phải bị xử lý. Sự bình đẳng nói ở đây là sự bình đẳng pháp lý, sự bình đẳng trước pháp luật chứ không phải là sự bình đẳng kinh tế. Đem pháp luật với tính cách là một đại lượng chung ra đo hành vi xử sự của các chủ thể kinh tế có tiềm lực khác nhau đã bao hàm trong đó sự bất bình đẳng. Nhưng để bảo đảm trật tự và ổn định trong quan hệ hợp đồng kinh tế không thể dùng một thước đo nào khác ngoài pháp luật. Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật. Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản có nghĩa là các bên tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế phải tự mình gánh vác trách nhiệm về tài sản, gồm phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế. Các cơ quan cấp trên, các tổ chức kinh tế khác không thể đứng ra chịu trách nhiệm tài sản thay cho bên vi phạm. Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản được thể hiện trong 10 điều trên 45 điều của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bao gồm các điều 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37 và 38. Nguyên tắc không trái với pháp luật đòi hỏi việc ký kết hợp đồng kinh tế phải hợp pháp. Điều này có nghĩa là mọi thỏa thuận trong hợp đồng phải hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp luật, không được lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật. Đây là điều có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ trật tự, kỷ cương của nhà nước trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế. Phù........chết vì typing mất... Gửi lúc 23:35, 02/04/04
|
langtu_vietnam lãng tử -liều mạng - chinh chiến mọi nẻo đường
,Vietnam Thành viên từ 17:51, 18/03/04
Đã được 2 người bình chọn (4.50)
|
Nhà em là 1 căn nhà 200 m2 đã ở gần 20 năm( cách đây 20 năm bố em mua lại từ một người sĩ quan chế độ cũ, có giấy tay, nhưng trong thời gian lưu lạc giấy tờ mất sạch) đùng một cái bà tám bên cạnh nhà em tranh chấp can nhà của em đang ở, bà ta có giấy tờ hẳn hoi chứng minh cả căn nhà em là của bà ta, và thâm chí luôn cả nhà bà hàng xóm tội nghiệp của em, xin mấy anh chỉ em giùm cách nào để em có thể lấy lại căn nhà này hợp pháp, nếu không nhà em sẽ bi đuổi ra khỏi nhà, tương lai của em sẽ mịt mù tăm tối, và em sẽ đi hoang, sẽ sinh ra ma tuý tù tội và em còn đứa em trai nữa, nó cũng sẽ như em thôi, giúp em là giúp cho cả tương lai của em và đứa em của em, ngôi nhà của em hiện thời trị giá khoảng 500 cây vàng 9999 Ai giúp em mà thuyết phục nhất em xin thưởng 10% trên tổng giá trị căn nhà, làm ơn giúp em gấp lắm ai trả lời xin vui òng để lại địa chỉ e mail có gì em trao phần thưởng hu hu hu hu hu hu hu hu hu hu hu ......... nếu không chắc chuẩn bị đi hoang..... à mà gỡi ý em còn giữ có 4 tờ giấy đóng thuế đất mà thôi, giấy tờ bà kia giữ đòi tranh chấp cũng là giấy tay.... làm ơn đi ..v.v.v.v hu hu hu hu hu các Luật sư đâu Gửi lúc 23:01, 07/04/04
|
tieuthuvuive đôi khi tình yêu vẫn thế, yêu nhau chỉ vì yêu nhau Một người gắn bó và đang xây dựng TTVNOnline ngày một tốt đẹp hơn
 ,Zimbabwe Thành viên từ 12:12, 27/03/04
Đã được 16 người bình chọn (4.50)
|
Trùi ui! trường hợp này của bác cũng phức tạp ra phết đấy. Đừng có than nhắng lên như vậy, chuyện gì cung phải bình tĩnh.hix... Muốn giúp bác, nhưng trước tiên bác phải nói rõ cho anh em bít là :Giấy tờ mà bà hàng xóm nhà anh sở hữu la giấy viết tay, nhưng có chứng nhận của chính quyền địa phương không?(điều này cũng quan trọng đấy). Sau đó bác lên phường, xin người ta cho xem trong hô` sơ địa chính. Nếu đất nhà anh đã sử dụng trong suốt hơn 20 năm qua, thi` chắc chắn có ghi tên nhà anh trong đó.đó cũng là căn cứ pháp lý để chứng minh anh đã sư dụng đất trong suốt hơn 20 năm qua.(em nghĩ nó sẽ có lợi cho bác khi co tranh chấp.) Ngoài ra, khi giải quyết tranh chấp, người ta còn phải điều tra xác minh thực tế nguồn gốc đất dang tranh chấp dể giải quyết. Bác cứ từ từ....rùi khoai sẽ nhừ. Em se nghiên cứu tiếp về chuyện này giúp bác.hix.... cho em có thời gian đã. môn này em học qua lâu quá rùi..... Gửi lúc 11:55, 08/04/04
|
BlueWish Hà Nội trong trái tim tôi...,
 ,Canada Thành viên từ 03:11, 10/02/04
Đã được 3 người bình chọn (5.00)
|
Trường hợp đấy chẳng có gì đáng lo lắm đâu. Cứ yên tâm là xí nghiệp nhà, rồi lên đến sở nhà đất chán chê còn chưa xong (trừ khi nhà bà hàng xóm có nhiều tiền + quen quan to; nhiều tiền thì đã chẳng đòi nhà thế, mà có tiền ko có quan thi cũng chả làm được gì) Theo kinh nghiệm thực tiễn thì có trường hợp thế này. Một gia đình ở 1 ngôi nhà trên 50 năm, có giấy tờ đàng hoàng. 20 năm trước đổi 1/2 ngôi nhà đó lấy 1 ngôi nhà ở chỗ khác và tiếp tục ở 1/2 ngôi nhà. Sau 1 thời gian thì người chủ mới chuyển đến 1/2 ngôi nhà ra nước ngoài sống --> nhà đóng của bỏ ko. Người chủ cũ vì ko có nhu cầu xử dụng nên cũng ko dùng 1/2 ngôi nhà bỏ ko. 1 thời gian sau có gia đình vợ con liêt sĩ ko có chỗ ở, nằm vật vờ trước nhà đó. Chủ nhà thương tình mở của cho vào ở 1/2 nhà bỏ ko.Sau khi gia đình liệt sĩ này xin được hộ khẩu (không hề có giấy tờ sở hữu nhà) đã kiện đòi dùng chung diện tích phụ của 1/2 căn nhà còn lại mặc dù cả 2 nửa nhà đều có sân riêng. Hàng tháng cả 2 nhà vẫn lên xí nghiệp nhà để giải quyết nhưng chảng giải quyết được gì, mặc dù hồ sơ rất rõ ràng. Thời gian sự việc này trùng với thời gian của nhà bác nên bác cũng thấy việc cư trú 20 năm ở nhà bác quan trọng hơn giấy tờ nhà. Nhưng mặt khác cũng cần lên phường xin xác minh, tập hợp tất cả những giấy tờ liên quan đến căn nhà nếu có thể. Summer kisses, Winter tears Gửi lúc 12:16, 08/04/04
|
ngualuoi Thành viên tích cực box Khoa học pháp lý
 ,Vietnam Thành viên từ 19:20, 03/08/03
Đã được 9 người bình chọn (4.78)
|
Đúng là hiện nay chúng ta dân chủ và nhân đạo quá trớn thành ra có thực tế là cứ chiếm nhà thì chẳng ai đuổi được (không nói nhà Lãng tử đâu nhé). Nếu giấy tờ hai bên đều yếu như nhau thì vấn đề là ai ở lâu mà không có tranh chấp thì người đó lợi. Có bạn làm cho công ty Luật Hà nội, hiện nay đang đại diện ở Sài gòn, nếu cần thì cho địa chỉ liên hệ Thân mến. Chào thân ái và quyết thắng. Khi tôi sinh ra, mọi người cười, riêng tôi khóc Sống làm sao khi tôi chết đi, mọi người khóc, riêng tôi cười Gửi lúc 13:35, 08/04/04
|
|
| |
|
|
|
Các chủ đề liên quan |
|
|
|
Đề nghị các bạn tuân thủ
qui định của diễn đàn khi gửi bài
lên diễn đàn. Để bảo vệ diễn đàn, các bạn hãy thông báo với ban quản trị khi
thấy các bài vi phạm qui định bằng cách ấn vào biểu tượng ở bên cạnh mỗi bài.
|
|
|
|
|