PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LUẬT SO SÁNH
Trước khi bàn tới phương pháp nghiên cứu luật so sánh, cần phải làm rõ về đối tượng nghiên cứu của LSS là gì, tại sao lại cần phải nghiên cứu LSS? Nghiên cứu LSS sẽ mang lại những kết quả ra sao?
Thứ nhất, LSS là hình thức đặc thù trong việc áp dụng phương thức so sánh trong khoa học pháp lý. Tính đặc thù của nó xuất phát trước hết từ những yếu tố mang tính quốc tế của pháp luật (ở đây cần phải phân biệt ngành khoa học LSS khác với ngành nghiên cứu Luật nước ngoài nhá). Chính bởi vậy, LSS có đối tượng áp dụng phương pháp so sánh là pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật, các chế định luật và các các nhóm quy phạm của các quốc gia khác nhau với những chế độ xã hội - chính trị khác nhau.
Thứ hai, LSS nghiên cứu những hệ thống pháp luật thực định khác nhau, bất luận chúng thuộc hệ thống páp luật quy phạm hay hệ thống thông luật (Anh - Mỹ). Nghiên cứu pháp luật thực định được tiến hành ở bốn cấp độ khác nhau:
Các quy phạm pháp luật
Các chế định pháp luật
Các ngành luật
Hệ thống pháp luật thực định.
Trong đó, hệ thống pháp luật có thể được xem xét, so sánh ở các khía cạnh khác nhau: từ quan điểm về cơ cấu hình thức, từ quan điểm về mối tương quan nội dung của các yếu tố trong hệ thống và cuối cùng là từ quan điểm tổng thể, tức là đặt hệ thống pháp luật trong hệ thống chính trị, xã hội và kinh tế để so sánh.
Tuy nhiên, luật so sánh cũng không chỉ mang yếu tố quốc tế của pháp luật và cũng không chỉ nghiên cứu pháp luật hiện hành. Đối tượng so sánh của nó còn là những trật tự pháp luật kế tiếp nhau trong từng quốc gia, kể cả pháp luật trong nước. Bởi nếu không như vậy, ý nghĩa và giá trị của môn luật so sánh sẽ giảm đi rất nhiều.
Thứ ba, LSS còn có đối tượng nghiên cứu là toàn bộ đời sống pháp luật, sự vận hành và tác động của pháp luật, các giá trị xã hội của pháp luật và hiệu quả của quá trình điều chỉnh pháp luật[/i]. Trên thực tế, trong lĩnh vực này, luật so sánh tập trung nghiên cứu những thực tiễn pháp lý bao gồm các hoạt động bảo vệ pháp luật, thực hiện và áp dụng pháp luật ở những khía cạnh khác nhau, nói cách khác, nghiên cứu cơ chế vận hành của pháp luật thực định đi vào cuộc sống.
Thứ tư và cũng là cuối cùng, LSS còn có nhiệm vụ tìm ra sự tương đồng và đối lập cũng như khác biệt của các học thuyết pháp lý, những đại lượng và hiện tượng còn tồn tại tiềm ẩn đằng sau mỗi quy phạm pháp luật, mỗi chế định pháp luật và hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau.
Bởi lẽ đơn giản là sự giống nhau và khác nhau giữa các hệ thống pháp luật không chỉ được xác định bởi tính đặc thù của các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân tộc và truyền thống ...của các quốc gia (những điều kiện khách quan) mà trong nhiều trường hợp nó bị chi phối mạnh mẽ bởi sự phát triển và thành công của các học thuyết pháp lý. Điều đó đã góp phần lý giải những hiện tượng thực tế.
VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LSS
Bắt đầu từ khái niệm chung nhất về phương pháp luận so sánh, có thể coi quá trình so sánh gồm có 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: là xác định xuất phát điểm của sự so sánh cũng như hiện trạng của từng đối tượng so sánh. Điều này đòi hỏi người nghiên cứu luật so sánh không chỉ phải rất am hiểu về luật pháp nước mình mà còn phải có kiến thức đầy đủ về những vấn đề pháp luật tương ứng của các quốc gia khác mà hệ thống pháp luật của họ được xác định là một bên bàn cân của đối tượng so sánh.
Giai đoạn thứ hai: là xác định mục đích, kết quả cần đạt được sau mỗi quá trình so sánh. Có thể nhận thấy rằng, LSS không chỉ nhằm mục đích tập hợp những kiến thức giản đơn về các hệ thống và các hiện tượng pháp luật của nước ngoài. Một quá trình so sánh giữa các quy phạm pháp luật không thể được thực hiện khi những quy phạm đó bị tách rời khỏi những điều kiện chính trị, xã hội, lịch sử... của chúng. Tìm ra những biểu hiện bề ngoài về sự giống và khác nhau của các hệ thống pháp luật chưa phải là mục đích cuối cùng của mỗi quá trình so sánh mà mục đích cuối cùng là áp dụng những kết luận rút ra được từ những hoạt động so sánh để kiến giải những vấn đề điều chỉnh pháp luật ở quốc gia mình.
Để làm được điều đó, các nhà luật học so sánh phải nghiên cứu, mổ xẻ, đi sâu vào bản chất và tìm ra những nguyên nhân và điều kiện khách quan dẫn tới sự ra đời, tồn tại của một hiện tượng pháp luật (giai đoạn 3). Đây là công đoạn khó khăn và phức tạp nhất đối với hoạt động nghiên cứu so sánh.
Để có thể rút ra được những kết luận có căn cứ khoa học, ngoài việc nhận thức về hiện trạng của một hiện tượng pháp lý cũng như giá trị riêng của nó, điều quan trọng hơn cả là cần phải xem xét sự tồn tại của những hiện tượng pháp lý đó trong bối cảnh chung của cả hệ thống pháp luật, phải xem xét chúng trong khuôn khổ các điều kiện triết học, kinh tế, chính trị, xã hội và lịch sử cũng như yếu tố truyền thống trong trạng thái tỉnh lẫn trạng thái động. Đây là lĩnh vực mà nhiều nhà luật so sánh không dễ gì vượt qua và đó chính là yếu tố quyết định sự thành bại của hoạt động so sánh.
So sánh không chỉ là sự trình bày mang tính chất thông báo về những đối tượng khác nhau. Hơn thế nữa, so sánh theo cảm tính, theo kinh nghiệm không những không mang lại hiệu quả mà có khi còn có hại.
Trong lịch sử lập pháp ở nước ta từ trước đến nay, mặc dù chưa bao giờ tồn tại một lý thuyết về so sánh pháp luật theo đúng nghĩa của nó, nhưng những hoạt động theo kiểu “so sánh” vẫn luân luôn tồn tại. Nhìn lại lịch sử của công tác lập pháp trong mấy thập kỷ gần đây có thể thấy không ít những quy phạm pháp luật nước ngoài được đưa vào hệ thống pháp luật nước nhà. Song do chưa có một phương pháp so sánh đúng đắn, do cực đoạn hoặc kinh nghiệm chủ nghĩa nên nhiều quy phạm có thể có hiệu quả và giá trị ở nước ngoài nhưng đã mất tác dụng trong điều kiện của nước ta.
Không thể đạt tới sự so sánh tương đối chính xác nếu không phân tích diễn trình song song các đặc tính tiêu biểu của hai đối tượng so sánh. Đối tượng so sánh không bất định mà biến đổi. Do vậy, so sánh khác với ước đoán, phỏng đoán và võ đoán, vì mục đích của so sánh không phải là vạch ra những điểm chung và riêng giữa các sự vật mà là đánh giá, xác định các giá trị của các đối tượng so sánh tại thời điểm so sánh với giả định là chúng bất biến.
So sánh sự vật biến đổi lại phải đánh giá và nhận định chúng trong quá trình vận động và phát triển, dự báo giá trị của chúng theo thời gian cụ thể và nhìn nhận tiến trình phát triển của chúng theo mục đích mà sự vật nhằm đạt tới.
Như vậy, phương pháp so sánh được tiến hành trong một quá trình tương đối hoàn chỉnh. Pháp luật so sánh thường được coi là sự pha trộn, hỗ hợp của pháp luật với phương pháp so sánh. Phương pháp so sánh quán xuyến toàn bộ quá trình so sánh, là con đường hợp lý xuất phát từ mục tiêu đưa ta tới đích để nắm bắt được tinh thần pháp luật theo một trật tự nhất định với những bước đi hợp lý. Phương pháp so sánh là sự đối lập các đối tượng so sánh, so sánh chúng, tìm ra sự giống và khác nhau để cuối cùng đưa ra những kết luận nhằm góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Có thể một cuộc tranh luận về luật so sánh, với tính cách là một chuyên ngành pháp lý độc lập hay là một phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý đặc thù, vẫn chưa chấm dứt. Nhưng từ góc độ phương pháp so sánh, thực tiễn các hoạt động so sánh, nghiên cứu đã diễn ra theo hướng sau đây:
1.Nghiên cứu những vấn đề lý luận của phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật.
2.Nghiên cứu so sánh những hệ thống pháp luật cơ bản và tiêu biểu của thời đại. Trong đó có vấn đề trọng tâm được đặt ra là nghiên cứu so sánh những kiểu và những dạng khác nhau của từng hệ thống pháp luật. Hay nói khác đi là so sánh giữa các trật tự pháp luật khác nhau.
3.Gần đây, xu hướng nghiên cứu pháp luật so sánh đã trở nên “thực dụng” hơn là phương pháp nghiên cứu so sánh lập pháp, đã thu hút sự quan tâm của hầu hết các nhà luật học so sánh. Điều đó có nghĩa rằng, bỏ quan những biên giới về chế độ chính trị, và nhà nước, các nhà luật học so sánh đã đi tìm những sự khác nhau và giống nhau của những nguồn luật thuộc những vấn đề pháp lý cụ thể trong cấp độ và phạm vi của từng ngành luật hoặc chế định tương ứng.
4.[i]Xu hướng cuối cùng được gọi là “so sánh chức năng” giữa các hiện tượng pháp luật trong các hệ thống pháp luật khác nhau. Gắn liền với xu hướng này là hàng loạt những nghiên cứu so sánh có định hướng về mặt xã hội học hoặc lịch sử...
Tóm lại, luật so sánh đã và đang tồn tại như các bộ phận cấu thành khác của khoa học pháp lý. Giá trị lý luận và phương pháp luận của nó không chỉ giới hạn ở chỗ thông qua nghiên cứu so sánh, bằng phương pháp tương phản và đồng nhất, người ta có thể am hiểu kỹ lưỡng hơn về hệ thống pháp luật của mình; cũng không chỉ là ở chỗ, thông qua đó, người ta có thể mở rộng tầm nhìn ra ngoài biên giới của pháp luật quốc gia. Ý nghĩa quan trọng của nghiên cứu so sánh pháp luật chính là khả năng ứng dụng những kết quả nghiên cứu vào hoạt động thực tiễn pháp luật cụ thể, nhằm hoàn thiện và phát triển cũng như đưa hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia hoà nhập vào cộng đồng trật tự pháp luật thế giới.
Đây là tài liệu của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - tôi post lên đây với tính chất để bà con tham khảo thêm về Luật so sánh.
Được constancy sửa chữa / chuyển vào 21:51 ngày 10/09/2003
Gửi lúc 10:58, 01/07/03